Dự án Nông lâm nghiệp thuộc cụm dự án điện mặt trời XT Ea Súp

CHƯƠNG I MỞ ĐẦU

I. Giới thiệu về chủ đầu tư.

Chủ đầu tư : Công ty TNHH XT Đắk Lắk.

Mã số thuế :

Đại diện pháp luật:

Chức vụ: Tổng Giám đốc

Địa chỉ trụ sở: Đường Hoàng Hoa Thám, Phường Tân Tiến. TP. Buôn Mê Thuộc tỉnh Đắk Lắk.

Công ty TNHH XT Đắk Lắk được thành lập trên nền tảng 4 Công ty thuộc tập đoàn Xuân Thành. Với vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng, Công ty được thành lập nhằm mục đích triển khai thực hiện đầu tư Cụm dự án điện mặt trời XT Ea Súp. Cụm Dự án nhà máy điện mặt trời bao gồm 15 nhà máy điện độc lập, thực hiện triển khai xây dựng trong thời gian 12 năm hoàn thành toàn bộ 15 nhà máy. Do vậy để tăng cường hiệu quả sử dụng đất trong khu vực, quản lý chặt chẽ diện tích đất của dự án, tránh tình trạng xâm lấn của cư dân lân cận, trong giai đoạn đầu hoàn thiện các thủ tục đầu tư Cụm nhà máy điện mặt trời, Công ty đã nghiên cứu dự án đầu tư nhà máy sản xuất chế biến nông sản và tổ chức canh tác nông nghiệp trồng nông sản nguyên liệu trên khu vực chưa sử dụng để xây dựng nhà máy điện mặt trời. Căn cứ tiến độ triển khai xây dựng của các nhà máy điện thuộc Cụm Dự án nhà máy điện mặt trời, diện tích canh tá sẽ được hoàn trả dần cho việc đầu tư xây dựng nhà máy điện. Sau khi hoàn thành toàn bộ 15 nhà máy điện, việc canh tác nông nghiệp sẽ thực hiện trên các khu vực đất  xen kẽ giữa các tấm pin mặt trời.

II. Mô tả sơ bộ thông tin dự án.

Tên dự án: Dự án Nông lâm nghiệp thuộc cụm dự án điện mặt trời XT Ea Súp – Giai đoạn 1.

Địa điểm thực hiện dự án: Xã Ia Lốp và Ia Rvê Huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.

Hình thức quản lý: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý điều hành và khai thác dự án.

Tổng mức đầu tư của dự án       : đồng. Trong đó:

  • Vốn tự có- huy động (…%): … đồng.
  • Vốn vay ngân hàng (…%) : … đồng.

III. Sự cần thiết xây dựng dự án.

Huyện Ea Súp là một trong những huyện biên giới của nước ta với nước bạn Campuchia, có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong việc ổn định kinh tế và chính trị ở Đăk Lăk nói riêng và Tây Nguyên nói chung. Xã Ya Lốp và Ia R’vê là 2 xã kinh tế mới của huyện Ea Súp giáp với biên giới Campuchia, có khí hậu và đất đai rất khắc nghiệt so với các vùng khác trong tỉnh. Chính vì vậy, việc phát triển nông nghiệp gặp nhiều hạn chế, đời sống của bà con nông dân gặp nhiều khó khăn.

Trong những năm qua, với sự quan tâm đầu tư của Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân Khu 5 và Chính quyền địa phương cho hai xã Ia Rvê, Ia Lốp huyện Ea Súp trong việc xây dựng địa bàn, xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật và di dân, tái định cư và Đoàn Kinh tế – Quốc phòng 737 đã cố gắng rất nhiều, tuy nhiên, các Chương trình, mục tiêu chính chưa đạt kết quả đề ra do điều kiện thời tiết khắc nghiệt, đất đai cằn cỗi.

Huyện Ea Súp là địa bàn có tiềm năng tốt về điện mặt trời với địa hình bằng phẳng, diện tích lớn, dân cư ít, bức xạ nhiệt tốt. Trong quá trình nghiên cứu địa điểm đầu tư dự án nhà máy điện mặt trời tại huyện Ea Súp, Chủ đầu tư đồng thời nghiên cứu thổ nhưỡng, cũng như khí hậu hai xã và nhận thấy, các loại cây như ngô, sắn, đậu tương, gừng và các loại cây dược liệu khác…vừa hợp với vùng đất gần biên giới này vừa mang giá trị kinh tế cũng như dinh dưỡng cao. Việc xây dựng khu trồng nông sản để làm nguyên liệu cho nhà máy chế biến phần nào tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo cho người dân.

Trong nghị quyết số 140/2014/NQ-HĐND của HĐND Tỉnh Đắk Lắk ngày 13 tháng 12 năm 2014 về Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, lãnh đạo tỉnh cũng đưa ra mục tiêu xây dựng Ea Súp trở thành vùng chuyên canh cây công nghiệp chất lượng cao và chế biến nông sản. Đặc biệt, lãnh đạo hai xã Ya Lốp và Ia R’vê cũng có nêu rõ định hướng tạo nhiều điệu kiện để thu hút nhà đầu tư trong lĩnh vực xây dựng nhà máy chế biến nông sản.

Với mục đích trên, hiện nay tỉnh đang triển khai thực hiện xây dựng kênh tưới dẫn nước từ hồ Ia Mơ về làm tiền đề cho việc phát triển nông nghiệp tại Ea Súp, đó là một thuận lợi rất lớn cho Công ty XT Đắk Lắk triển khai dự án nông nghiệp kết hợp điện mặt trời.

Bên cạnh đó, trong phần đất dự kiến thực hiện dự án bao gồm đất chưa chuyển đổi mục đích sang đất nông nghiệp ( 1064,91 ha), trong thời gian tiến hành chuyển đổi theo từng năm, công ty tiến hành khoanh nuôi, bảo vệ rừng, đồng thời xây dựng vườn ươm và sản xuất các cây lâm nghiệp nhằm góp phần bảo vệ rừng, phát triển, tăng độ che phủ của rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, từng bước nâng cao hiệu quả trong sản xuất lâm nghiệp.

Chính vì vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu và lập dự án đầu tư “Dự án Nông lâm nghiệp thuộc cụm nhà máy năng lượng điện mặt trời XT Ea Súp giai đoạn I” là dự án nông lâm nghiệp kết hợp với điện mặt trời nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất của toàn dự án.

IV. Các căn cứ pháp lý.

Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2013 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Luật hàng hải Việt Nam số 95/2015/QH13 của Quốc hội.

Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng;

Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng;

Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng;

Quyết định số 79/QĐ-BXD ngày 15/02/2017 của Bộ Xây dựng về việc công bố định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng;

Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ V/v Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

Quyết định số 87/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17 tháng 6 năm 2009 về Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Đăk Lăk thời kỳ đến năm 2020.

Nghị quyết số 140/2014/NQ-HĐND của HĐND Tỉnh Đắk Lắk ngày 13 tháng 12 năm 2014 về Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

V. Mục tiêu dự án

V.1. Mục tiêu chung.

– Đầu tư xây dựng vùng trồng nông sản để làm nguyên liệu cho nhà máy chế biến, nâng cao giá trị nông sản, cung cấp các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và hướng đến xuất khẩu.

– Cung cấp nguồn tinh bột, dược liệu sấy khô và củ quả đông lạnh sạch, an toàn, đảm bảo chất lượng dinh dưỡng đến tay người tiêu dùng.

-Quản lý, bảo vệ, bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng Săng lẻ gắn với việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn nguồn gen, bảo vệ cảnh quan và môi trường;

– Xây dựng vườn ươm và sản xuất các cây lâm nghiệp

– Đào tạo nâng cao trình độ nguồn nhân lực; Tạo việc làm và nâng cao mức sống cho lao động địa phương;

– Góp phần phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường sống tại địa phương;

– Phát triển mô hình canh tác nông nghiệp bền vững nhằm từng bước ổn định đời sống đồng bào tại chỗ, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái tại hai xã Xã Ia Lốp và Ia Rvê nói riêng  và vùng biên giới huyện Ea Súp, tỉnh Đăk Lăk nói chung.

– Đạt mục tiêu lợi nhuận trên nguyên tắc 3 bên cùng có lợi: Nhà nước, người dân và doanh nghiệp; đóng góp cho thu ngân sách một khoản từ lợi nhuận sản xuất thông qua các khoản thuế;

V.2. Mục tiêu cụ thể.

………….

Chương II

ĐỊA ĐIỂM VÀ QUY MÔ THỰC HIỆN DỰ ÁN

I.1. Điều kiện tự nhiên vùng thực hiện dự án.

  1. Vị trí địa lý

Tỉnh Đắk Lắk  có diện tích 13.125,37 km² nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, nằm trong khoảng tọa độ địa lý từ 107º28’57” đến 108º59’37” độ kinh Đông và từ 12º9’45”  đến 13º25’06” độ vĩ Bắc, có độ cao trung bình 400 – 800 mét so với mặt nước biển, nằm cách Hà Nội 1.410 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km.

–   Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai

–   Phía Đông giáp Phú Yên và Khánh Hoà

–    Phía Nam giáp Lâm Đồng và Đắk Nông

–    Phía Tây giáp Campuchia.

  1. Địa hình

Địa hình của tỉnh rất đa dạng: nằm ở phía Tây và cuối dãy Trường Sơn, là một cao nguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven theo các sông chính. Địa hình của tỉnh có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc.

  1. Khí hậu

Khí hậu toàn tỉnh được chia thành hai tiểu vùng. Vùng phía Tây Bắc có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô; vùng phía Đông và phía Nam có khí hậu mát mẻ, ôn hoà. Khí hậu sinh thái nông nghiệp của tỉnh được chia ra thành 6 tiểu vùng:

– Tiểu vùng bình nguyên Ea Súp chiếm 28,43% diện tích tự nhiên

– Tiểu vùng cao nguyên Buôn Mê Thuột – Ea H’Leo chiếm 16,17% diện tích tự nhiên.

– Tiểu vùng đồi núi và cao nguyên M’Đrắk chiếm 15,82% diện tích tự nhiên.

– Tiểu vùng đất ven sông Krông Ana – Sêrêpôk chiếm 14,51% diện tích tự nhiên.

– Tiểu vùng núi cao Chư Yang Sin chiếm 3,98% diện tích tự nhiên.

– Tiểu vùng núi Rlang Dja chiếm 3,88% diện tích tự nhiên.

Nhìn chung khí hậu khác nhau giữa các dạng địa hình và giảm dần theo độ cao: vùng dưới 300 m quanh năm nắng nóng, từ 400 – 800 m khí hậu nóng ẩm và trên 800 m khí hậu mát. Tuy nhiên, chế độ mưa theo mùa là một hạn chế đối với phát triển sản xuất nông sản hàng hoá.

Khí hậu có 02 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10, tập trung 90% lượng mưa hàng năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể.

  1. Tài nguyên thiên nhiên

ü Tài nguyên đất

Một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu đãi cho Đắk Lắk đó là tài nguyên đất. Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 13.085 km2, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám, đất đỏ bazan và một số nhóm khác như: đất phù sa, đất gley, đất đen.

Các đất hình thành từ đá bazan có độ phì khá cao (pH/H2O từ trung tính đến chua, đạm và lân tổng số khá). Sự đồng nhất cao giữa độ phì nhiêu tự nhiên và độ phì nhiêu thực tế của các nhóm đất và loại đất, được phân bố trên cao nguyên Buôn Ma Thuột trải dài khoảng 90 km theo hướng đông bắc – tây nam và rộng khoảng 70 km. Phía bắc cao nguyên này (Ea H’Leo) cao gần 800 m, phía nam cao 400 m, càng về phía tây chỉ còn 300 m, bề mặt cao nguyên rất bằng phẳng chỉ còn điểm một vài đồi núi.

– Nhóm đất phù sa (Fuvisols): Được hình thành và phân bố tập trung ven các sông suối trong tỉnh. Tính chất của loại đất này phụ thuộc vào sản phẩm phong hoá của mẫu chất.

– Nhóm đất Gley (Gleysols):

Phân bố tập trung ở các khu vực thấp trũng thuộc các huyện Lắk, Krông Ana và Krông Bông.

– Nhóm đất xám (Acrisols):

Là nhóm lớn nhất trong số các nhóm đất có mặt tại Đắk Lắk, phân bố ở hầu hết các huyện.

– Nhóm đất đỏ (Ferrasol, trong đó chủ yếu là đất đỏ bazan).

Là nhóm đất chiếm diện tích lớn thứ hai (sau đất xám) chiếm tới 55,6% diện tích đất đỏ bazan toàn Tây Nguyên. Đất đỏ bazan còn có tính chất cơ lý tốt, kết cấu viên cục độ xốp bình quân 62 – 65%, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao… rất thích hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu… và nhiều loại cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày khác. Đây là một lợi thế rất quan trọng về điều kiện phát triển nông nghiệp của tỉnh Đắk Lắk.

ü  Tài nguyên nước

  1. a)    Nguồn nước mặt

Với những đặc điểm về khí hậu-thủy văn và với 3 hệ thống sông ngòi phân bố tương đối đều trên lãnh thổ (hệ thống sông Srepok; hệ thống sông Ba, hệ thống sông Đồng Nai) cùng với hàng trăm hồ chứa và 833 con suối có độ dài trên 10 km, đã tạo cho Đắk Lắk một mạng lưới sông hồ khá dày đặc.

  1. b) Nguồn nước ngầm

Tập trung chủ yếu trong các thành tạo Bazan & Trầm tích Neogen đệ tứ, tồn tại chủ yếu dưới 2 dạng: Nước lỗ hổng và nước khe nứt. Tổng trữ lượng ước tính: Chất lượng nước thuộc loại nước siêu nhạt, độ khoáng hoá M= 0,1 – 0,5, pH = 7-9. Loại hình hoá học thường là Bicacbonat Clorua Magie, Can xi hay Natri.

ü Tài nguyên rừng

Sau khi chia tách tỉnh, diện tích đất có rừng của Đắk Lắk là 608.886,2 ha, trong đó rừng tự nhiên là 594.488,9 ha, rừng trồng là 14.397,3 ha. Rừng Đắk Lắk được phân bố đều khắp ở các huyện trong tỉnh, đặc biệt là hành lang biên giới của tỉnh giáp Campuchia. Rừng Đắk Lắk phong phú và đa dạng, thường có kết cấu 3 tầng: cây gỗ, có tác dụng phòng hộ cao; có nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học; phân bố trong điều kiện lập địa thuận lợi, nên rừng tái sinh có mật độ khá lớn. Do đó rừng có vai trò quan trọng trong phòng chống xói mòn đất, điều tiết nguồn nước và hạn chế thiên tai. Rừng Đắk Lắk có nhiều loại động vật quý hiếm phân bổ chủ yếu ở vườn Quốc gia Yok Đôn và các khu bảo tồn Nam Kar, Chư Yangsin… có nhiều loại động vật quý hiếm ghi trong sách đỏ nước ta và có loại được ghi trong sách đỏ thế giới. Rừng và đất lâm nghiệp có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của tỉnh.

ü Tài nguyên khoáng sản

Đắk Lắk không những được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên đất, rừng mà còn rất phong phú và đa dạng về các loại hình khoáng sản. Trên địa bàn tỉnh có nhiều mỏ khoáng sản với trữ lượng khác nhau, nhiều loại quý hiếm. Như sét cao lanh (ở M’Drắk, Buôn Ma Thuột – trên 60 triệu tấn), sét gạch ngói (Krông Ana, M’Drắk, Buôn Ma Thuột – trên 50 triệu tấn), vàng (Ea Kar), chì (Ea H’Leo), phốt pho (Buôn Đôn), Than Bùn (Cư M’Gar), đá quý (Opan, Jectit), đá ốp lát, đá xây dựng, cát xây dựng… phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh.

I.2. Điều kiện xã hội vùng dự án.

  1. Kinh tế

ü  Nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển, giữ vai trò quan trọng trong ổn định kinh tế và đời sống nông thôn, góp phần chủ yếu trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Việc áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất ngày càng được mở rộng, nhất là ở các khâu làm đất, gieo trồng và thu hoạch làm tăng năng suất lao động. Nhiều tiến bộ khoa học – công nghệ được áp dụng vào sản xuất, từng bước nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chăn nuôi; bước đầu hình thành các vùng chăn nuôi tập trung, an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh, chăn nuôi có kiểm soát; chuyển dần từ chăn nuôi nông hộ, gia trại sang chăn nuôi công nghiệp trang trại quy mô lớn – công nghệ cao; khuyến khích các đơn vị, doanh nghiệp nhập khẩu giống tốt, chất lượng cao phục vụ sản xuất.

Ngành nông, lâm, thủy sản ước đạt 18.892 tỷ đồng, bằng 107,6% KH, tăng trưởng 4,25% (KH: 17.559 tỷ đồng, tăng 3,5-4%). Giá trị sản xuất của các loại cây trồng lâu năm và hằng năm trên địa bàn tỉnh tăng khoảng 250,4 tỷ đồng, tương ứng giá trị tăng thêm 118 tỷ đồng.

ü  Công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010) năm 2016 thực hiện 13.750 tỷ đồng, tăng 18,5% so với năm 2015, đạt 108,2% kế hoạch. Công nghiệp cơ khí, luyện kim chủ yếu sản xuất các sản phẩm phục vụ sản xuất nông nghiệp, nông thôn như: bơm ly tâm, máy chế biến nông sản, máy bơm nước, có mức tăng trưởng khá do nhu cầu của người dân tăng cao. Lĩnh vực công nghiệp trong năm 2016 gặp nhiều khó khăn nhưng do một số sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn như chế biến tinh bột sắn tăng cao nên giá trị sản xuất của ngành cả năm vẫn đạt và vượt kế hoạch. Các nhà máy sản xuất tinh bột sắn trên địa bàn sản xuất ổn định, nguồn nguyên liệu dồi dào, thực hiện khoảng 150.000 tấn, đạt 115,4% kế hoạch năm. Trong năm có 3 nhà máy tinh bột sắn đi vào hoạt động, sản lượng ước đạt 7.000 tấn tinh bột xuất khẩu.

ü  Tình hình đầu tư

Tình hình thu hút đầu tư của tỉnh có nhiều khởi sắc so với năm 2015, số lượng các nhà đầu tư đến tìm hiểu và đăng ký đầu tư nhiều hơn. Các dự án đầu tư đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương, tăng thu ngân sách của tỉnh. Trong 10 tháng đầu năm, tỉnh thu hút được 98 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký 23.896 tỷ đồng. Ngoài ra, tỉnh đã tiếp đón và hướng dẫn thủ tục đầu tư cho hơn 150 lượt nhà đầu tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Tiếp nhận 1 dự án, tổng vốn đăng ký 0,23 triệu USD, nâng tổng số các dự án FDI trên địa bàn tỉnh đến thời điểm hiện tại lên 12 dự án với tổng vốn đăng ký 118,89 triệu USD.

Ngoài ra, đánh giá về việc thực hiện 18 chỉ tiêu nhiệm vụ chủ yếu năm 2016 cho thấy, có 12 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra, nổi bật nhất là chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, tổng sản phẩm xã hội (GRDP – theo giá so sánh 2010) khoảng 44.571 tỷ đồng, đạt 101,3% kế hoạch; tăng trưởng kinh tế 7,02%. Cơ cấu kinh tế (theo giá hiện hành): nông – lâm – thủy sản đạt 44,81%; công nghiệp – xây dựng đạt 14,48%; dịch vụ đạt 38,68% (kế hoạch năm 2016 tương ứng là: 43 – 44%, 16 – 17%, 36 – 37%). Năm 2016 có 686 doanh nghiệp giải thể, bỏ địa chỉ kinh doanh và ngừng hoạt động nhưng so với cùng kỳ năm 2015, số thành lập mới lại tăng 9,6% (720 doanh nghiệp dân doanh) với tổng số vốn đăng ký 2.880 tỷ đồng, tăng 36,04%. Tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động cho 130 chi nhánh và 29 văn phòng đại diện của doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh. Toàn tỉnh có 6.238 doanh nghiệp hoạt động (51 doanh nghiệp nhà nước, 6.180 doanh nghiệp dân doanh, 7 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài); 1.088 chi nhánh và 261 văn phòng đại diện của doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh. Kết quả này cho thấy dấu hiệu doanh nghiệp đang từng bước phục hồi sản xuất và khẳng định những tác động tích cực của công tác cải cách hành chính, qua đó góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, tiếp tục tạo dựng niềm tin trong cộng đồng doanh nghiệp.

  1. Xã hội

Dân số toàn tỉnh tính đến năm 2012  đạt 1.796.666 người, mật độ dân số đạt hơn 137 người/ km². Trong đó, dân số sống tại thành thị đạt 432.458 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.364.208 người. Dân số nam đạt 906.619 người, dân số nữ đạt 890.047 người. Cộng đồng dân cư Đắk Lắk gồm 47 dân tộc. Trong đó, người Kinh chiếm trên 70%; các dân tộc thiểu số như Ê Đê, M’nông, Thái, Tày, Nùng… chiếm gần 30% dân số toàn tỉnh. Dân số tỉnh phân bố không đều trên địa bàn các huyện, tập trung chủ yếu ở thành phố Buôn Ma Thuột, thị trấn, huyện lỵ, ven các trục Quốc lộ 14, 26, 27 chạy qua như Krông Búk, Krông Pắk, Ea Kar, Krông Ana. Các huyện có mật độ dân số thấp chủ yếu là các huyện đặc biệt khó khăn như Ea Súp, Buôn Đôn, Lắk, Krông Bông, M’Đrắk, Ea Hleo v.v…

Trên địa bàn tỉnh, ngoài các dân tộc thiểu số tại chỗ còn có số đông khác dân di cư từ các tỉnh phía Bắc và miền Trung đến Đắk Lắk sinh cơ lập nghiệp.Trong những năm gần đây, dân số của Đắk Lắk có biến động do tăng cơ học, chủ yếu là di dân tự do, điều này đã gây nên sức ép lớn cho tỉnh về giải quyết đất ở, đất sản xuất và các vấn đề đời sống xã hội, an ninh trật tự và môi trường sinh thái.

Đắk Lắk là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc có những nét đẹp văn hoá riêng. Đặc biệt là văn hoá truyền thống của các dân tộc Ê Đê, M’Nông, Gia Rai… với những lễ hội cồng chiêng, đâm trâu, đua voi mùa xuân; kiến trúc nhà sàn, nhà rông; các nhạc cụ lâu đời nổi tiếng như các bộ cồng chiêng, đàn đá, đàn T’rưng; các bản trường ca Tây Nguyên… là những sản phẩm văn hoá vật thể và phi vật thể quý giá, trong đó “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” đã được tổ chức UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Tất cả các truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hóa của Đắk Lắk.

Dân tộc Ê Đê thuộc ngữ hệ Malayô – Pôlinêdiêng, địa bàn cư trú chủ yếu là các huyện phía Bắc và phía Nam: từ Ea Hleo, Buôn Hồ xuống M’Đrắk và kéo dài lên Buôn Ma Thuột. Dân tộc M’nông thuộc ngữ hệ Môn-Khơme, địa bàn cư trú chủ yếu là các huyện phía Nam và dọc biên giới Tây Nam.

  1. II. Quy mô sản xuất của dự án.

II.1. Đánh giá nhu cầu thị trường – Định hướng chiến lược tiêu thụ

  1. Đánh giá nhu cầu thị trường

Tải để xem thêm

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*