Đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu phát triển và chuyển giao các giống bông mới giai đoạn 2011 – 2015

Đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu phát triển và chuyển giao các giống bông mới, lap du an dau tu

Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đang phát triển mạnh, chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân về tạo việc làm cho người lao động, thu ngoại tệ và là nguồn thu thuế lớn của nhà nước. Hiện nay, Việt Nam là một trong 10 nước xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới nhưng có một nghịch lý là tuy giá trị kim ngạch xuất khẩu cao nhưng giá trị gia tăng của ngành không lớn vì nguồn nguyên liệu chủ yếu phụ thuộc vào nhập khẩu, sản lượng bông sản xuất trong nước hiện mới chỉ đáp ứng được xấp xỉ 2% nhu cầu bông xơ cho ngành sợi.

Ngày 10/3/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 36/2008/QĐ-TTg, Phê duyệt chiến lược phát triển ngành Công nghiệp Dệt May Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, với mục tiêu : Phát triển ngành Dệt May trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới. Theo đó xác định, định hướng phát triển sản phẩm bao gồm : i) Tập trung phát triển và nâng cao khả năng cạnh tranh cho ngành may xuất khẩu để tận dụng cơ hội thị trường. Nâng cao tỷ lệ nội địa hoá để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và xuất khẩu; ii) Xây dựng Chương trình sản xuất vải phục vụ xuất khẩu; iii) Xây dựng Chương trình phát triển cây bông, trong đó chú trọng xây dựng các vùng trồng bông có tưới nhằm tăng năng suất và chất lượng bông xơ của Việt Nam để cung cấp cho ngành dệt.
Đánh giá, tổng kết lại quá trình xây dựng và phát triển vùng bông nguyên liệu qua các giai đoạn cho thấy cây bông hoàn toàn có thể phát triển tốt ở Việt Nam. Tại nhiều vùng, ở những thời điểm nhất định, trồng bông mang lại hiệu quả kinh tế cao và trở thành cây chủ lực xóa đói giảm nghèo. Điển hình, trong niên vụ 2002 – 2003, diện tỉnh sản xuất bông đạt đỉnh điểm 32.600 ha với sản lượng 13.000 tấn, đáp ứng xấp xỉ đến 15% nhu cầu nguyên liệu xơ cho Dệt – May bấy giờ. Tuy nhiên, trong những năm tiếp theo, diện tích trồng bông tại Việt Nam sụt giảm nghiêm trọng (đến vụ 2007/2008 chỉ còn 7324 ha). Nguyên nhân chủ yếu là do năng suất bông chưa cao đồng thời giá thu mua bông nguyên liệu quá thấp, làm cho cây bông bị mất lợi thế so với các cây trồng khác như : ngô, đậu tương, sắn. Mặt khác, chính sách trợ giá cho sản xuất bông trong nước của các nước phát triển đã làm cho giá bông xơ trên thị trường thế giới thấp giả tạo, có lúc xuống dưới giá thành sản xuất ( mức 0,9 USD/kg bông xơ) đã tác động không nhỏ đến sản xuất bông ở Việt Nam cũng như nhiều các nước khác trên thế giới.
Gần đây, cùng với việc áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật như trồng dày, điều tiết sinh trưởng hợp lý, đặc biệt là sử dụng các giống bông lai mới có năng suất cao, phẩm chất tốt và chống chịu sâu bệnh đã tạo nên bước đột phá mới về năng suất. Trong điều kiện sản xuất bông tập trung thâm canh có tưới, cây bông đạt năng suất 2,5 đến 3,0 tấn/ha. Mặt khác, việc giảm dần trợ cấp nông nghiệp của các nước phát triển đã làm cho giá bông xơ trên thị trường thế giới liên tục tăng (hiện đang ở mức khoảng 2,4 – 2,5 USD/kg bông xơ), đã tác động mạnh tới giá thu mua bông hạt trong nước. Đây chính là cơ hội lớn để ngành bông Việt Nam dần phục hồi và phát triển.
Từ những vấn đề trên, đầu năm 2010 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình phát triển cây bông vải Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 (Quyết định số 29/QĐ-TTg ngày 08 tháng 01 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ). Chương trình xác định trong niên vụ 2009 – 2010 sẽ mở rộng diện tích trồng bông trên cả nước lên khoảng 8.000 ha, và trong năm 2015 đạt 30.000 ha, với sản lượng 20.000 tấn bông xơ. Mục tiêu của chương trình là phát triển cây bông vải nhằm đẩy mạnh cung cấp nguyên liệu bông xơ sản xuất trong nước cho ngành dệt may, từng bước đáp ứng nhu cầu bông, giảm nhập siêu, tạo điều kiện để ngành dệt may Việt Nam tăng trưởng và phát triển ổn định.
Theo chương trình, Nhà nước sẽ đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các công trình thủy lợi và hệ thống tưới tiêu ở các vùng quy hoạch trồng bông tập trung có tưới; đầu tư nâng cấp cơ sở nghiên cứu khoa học, các phòng thí nghiệm chuyên sâu công nghệ cao; ưu tiên đầu tư kinh phí cho nghiên cứu chọn tạo giống bông vải có năng suất cao; bố trí kinh phí từ Chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi, giống cây lâm nghiệp, giống thuỷ sản để triển khai thực hiện dự án nhân giống bông vải có năng suất, tỷ lệ xơ và tính chống chịu cao phục vụ nhu cầu sản xuất.
Để phát triển cây bông vải, cùng với việc đầu tư cơ sở hạ tầng, nhân lực và chính sách đổi mới, phải có những giải pháp căn bản để nâng cao hiệu quả kinh tế của cây bông, một mặt phải tiếp tục nghiên cứu, chọn tạo các giống bông có năng suất cao, chất lượng xơ tốt, mặt khác phải có các giải pháp kỹ thuật giúp tiết giảm chi phí đầu vào cho người trồng bông.
Để tăng hiệu quả của canh tác bông vải, từ đó khuyến khích người nông dân trồng bông, các chuyên gia đề nghị, cần đẩy mạnh nghiên cứu, lai tạo, chọn lọc giống và xây dựng được một quy trình sản xuất tiên tiến, khoa học, để từ đó đưa năng suất bông lên bằng với năng suất của thế giới. Đồng thời, hoàn thiện hệ thống thủy lợi; hỗ trợ người nông dân vay vốn; đầu tư thâm canh trên diện tích hiện có; tích cực mở rộng diện tích trồng bông theo quy trình mới… Trong các giải pháp căn bản này, việc sử dụng giống bông có chất lượng cao, phù hợp với điều kiện sinh thái khác nhau là một trong những giải pháp quan trọng để mở rộng diện tích trồng bông, giúp ngành bông phát triển nhanh chóng và bền vững.
Những năm qua, ngành bông đã ứng dụng thành công nhiều tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, trong đó việc chuyển giao, sử dụng các giống bông mới đã góp phần nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp. Hiện nay, việc ứng dụng kỹ thuật công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp đã tạo ra các giống bông mới có nhiều ưu điểm nổi trội như kháng sâu, kháng thuốc trừ cỏ, chịu hạn và có tính chống chịu sâu, bệnh hại cao… Do đó việc tiếp tục  hoàn thiện và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật về giống bông, nhằm tạo ra đột phá mới về năng suất, chất lượng sản phẩm, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng của ngành là hết sức cần thiết.
Để giải quyết những tồn tại và yêu cầu nói trên, thực hiện có hiệu quả mục tiêu phát triển cây bông vải của Chính phủ, Viện Nghiên cứu bông và Phát triển nông nghiệp Nha Hố phối hợp với Chúng tôi tiến hành nghiên cứu và lập dự án “Đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu phát triển và chuyển giao các giống bông mới giai đoạn 2011 – 2015.

MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN.

  • Phát triển, nhân nhanh các giống bông, đảm bảo cung cấp đạt tỷ lệ sử dụng giống chất lượng cao lên khoảng trên 90% vào năm 2015 cho vùng nguyên liệu 30.000 ha nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho người trồng bông.
  • Tăng cường năng lực nghiên cứu, chọn tạo giống mới, chuyển giao, sản xuất, cung ứng giống bông (giống lai, giống thuần) có năng suất, chất lượng cao, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, chịu hạn tốt…
  • Xây dựng hạ tầng khu công nghệ cao sản xuất giống bông; bổ sung trang, thiết bị phòng kiểm nghiệm chất lượng hạt giống, xơ bông theo hướng đồng bộ, hiện đại, hệ thống cán, chế biến hạt giống bông và thiết bị đồng ruộng phục vụ sản xuất giống bông.
  • Đào tạo, nâng cao năng lực cho người sản xuất giống bông: Đào tạo cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên sâu về công nghệ chọn, tạo giống, công nghệ sinh học trong nông nghiệp; huấn luyện kỹ thuật mới, trình diễn công nghệ, chuyển giao công nghệ cho người sản xuất giống bông.
  • Nhân giống được 400 kg giống gốc; 900 kg giống siêu nguyên chủng và 5.250 kg giống bố mẹ, cung cấp đủ cho nhu cầu sản xuất hạt giống xác nhận và giống lai F1.
  • Nhập nội bổ sung nguồn gen quý 30-40 mẫu giống làm vật liệu khởi đầu; 50-60 giống lai F1 cho trồng thử nghiệm.
  • Hoàn thiện được 05 quy trình công nghệ sản xuất giống bông chất lượng cao.
  • Xây dựng được 3 mô hình trình diễn công nghệ mới về sản xuất giống bông.
  • Hoàn thành công tác khảo nghiệm, sản xuất thử cho các giống mới ở 4 vùng bông chính trong 2 vụ; công nhận 2 – 3 giống bông thuần và lai mới.
  • Tập huấn trong nước 15 lớp/600 lượt người sản xuất và phát triển giống bông; đào tạo ngoài nước cho 9 cán bộ làm công tác giống; thuê 3 chuyên gia nước ngoài về chọn tạo và sản xuất giống bông.
  • Hình thành, hoàn thiện đồng bộ cơ sở vật chất hệ thống từ nghiên cứu, chọn tạo, đến sản xuất, chế biến, cung ứng giống bông chất lượng cao.