Dự án đầu tư xây dựng Khu Nông nghiệp Công nghệ cao và du lịch sinh thái PS

CHƯƠNG I. MỞ ĐẦU

 I. Giới thiệu về chủ đầu tư.

Chủ đầu tư : CÔNG TY TNHH MTV SX NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO – TM- DV- DU LỊCH NTP

Giấy phép ĐKKD số:

Đại diện pháp luật:        –          Chức vụ: Giám Đốc

Địa chỉ : Thôn Xã Đắk Wer , Huyện Đắk R’Lấp, Tỉnh Đắk Nông

 II. Mô tả sơ bộ thông tin dự án.

Tên dự án: Xây dựng Khu Nông nghiệp Công nghệ cao và du lịch sinh thái PS

Địa điểm xây dựng: Xã Đắk Wer , Huyện Đắk R’Lấp, Tỉnh Đắk Nông.

Hình thức quản lý:  Chủ đầu tư trực tiếp quản lý và thực hiện dự án.

Tổng mức đầu tư : 49.990.070.000 đồng. Trong đó:

+Vốn tự có:        25.137.670.000  đồng.

+Vốn vay tín dụng và huy động :     24.852.400.000 đồng.

III. Sự cần thiết xây dựng dự án.

Đối với nước ta, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Hiện nay, nhiều địa phương đã xây dựng và triển khai thực hiện chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh như Lâm Đồng đã tiến hành triển khai đầu tư xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao với những hình thức, quy mô và kết quả hoạt động đạt được ở nhiều mức độ khác nhau.

Theo UBND tỉnh Đắk Nông, hiện toàn tỉnh có gần 3.300 mô hình trồng trọt, chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao, giúp nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển nông nghiệp theo hướng an toàn, bền vững, mang lại lợi nhuận cao rõ rệt cho nông dân. Quyết định 1942/QĐ – TTg ngày 22 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Đắk  Nông cũng nêu rõ nhiệm vụ tiếp tục đưa những loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ vào sản xuất theo các mô hình trồng trọt công nghệ cao. Đưa tỷ trọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp lên 8 – 9% vào năm 2015 và tăng lên 10-11% năm 2020.

Trong vài thập kỷ gần đây, ngành Du lịch Việt Nam đã dần vươn lên góp phần xứng đáng vào tăng trưởng kinh tế hàng năm trong nước. Đắk Nông là tỉnh có điều kiện khí hậu mát mẻ quanh năm, có nguồn tài nguyên tự nhiên khá phong phú với nhiều thắng cảnh hùng vỹ, hữu tình; địa hình thung lũng, núi, đồi xen kẽ những cánh rừng nguyên sinh, những con sông, suối góp công cùng địa hình vùng cao tạo thành những hồ nước nên thơ, mang đến cho Đắk Nông nhiều tiềm năng để đầu tư phát triển du lịch. Đặc biệt, với tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ như hiện nay, du lịch nông nghiệp sinh thái đang dần trở thành một “hướng đi mới”, thu hút nhiều sự quan tâm của du khách.

Trước thực tế này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu và lập dự án“Xây dựng Khu nông nghiệp công nghệ cao và du lịch sinh thái Phước Sơn”.

IV. Các căn cứ pháp lý.

Luật du lịch số 44/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2013 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/06/2014 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng;

Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng;

Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng;

Quyết định số 79/QĐ-BXD ngày 15/02/2017 của Bộ Xây dựng về việc công bố định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng;

Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ V/v Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

Nghị định 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ về Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

Quyết định 1942/QĐ – TTg ngày 22 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Đắk  Nông.

V. Mục tiêu dự án.

V.1. Mục tiêu chung.

  • Tổ chức tiếp nhận công nghệ, thực nghiệm các biện pháp kỹ thuật, xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.
  • Các công nghệ được ứng dụng trong thực hiện dự án chủ yếu tập trung vào công nghệ cao, công nghệ tiên tiến so với mặt bằng công nghệ sản xuất nông nghiệp trong tỉnh.Góp phần phát triển kinh tế của tỉnh nhà.
  • Góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp tỉnh nhà phát triển theo hướng công nghệ cao, mang tính hàng hóa.
  • Hình thành mô hình điểm trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, sản phẩm phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩ
  • Khai thác tiềm năng, thế mạnh về du lịch địa phương trong mối tương quan với vùng, cả nước trên trường quốc tế. Qua đó, xác định mô hình đặc trưng, có tính hấp dẫn cao để góp phần thúc đẩy du lịch Tỉnh Đắk Nông.

phát triển.

  • Đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái nông nghiệp. Góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân trong vùng và tạo ra một địa điểm khám phá, du lịch sinh thái lành mạnh cho người dân địa phương cũng như du khách trong và ngoài nước.

V.2. Mục tiêu cụ thể.

  • Hướng đến mô hình du lịch trải nghiệm khép kín với tiêu chí du khách được tham gia tất cả các khâu từ sản xuất đến hưởng thụ thành quả từ hoạt động, xây dựng thương hiệu thông qua du lịch và trải nghiệm thực tế, nâng cao chất lượng dịch vụ.
  • Tổ chức dịch vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh gắn với du lịch sinh thái nhằm gia tăng giá trị sản xuất.
  • Hình thành chuỗi kết sản xuất hữu cơ (Organic) công nghệ cao cho các đối tượng nông nghiệp của dự án, chế biến, cung cấp sản phẩm cho du khách thưởng thức tại chổ.
  • Dự án tổ chức sản xuất các sản phẩm chính như: bơ, tiêu cà phê, mận, bưởi,….. và vật nuôi gồm: dê, vịt xiêm, cá, cá sấu,…
  • Mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng uy tín của công ty trên thị trường.

Chương II

ĐỊA ĐIỂM VÀ QUY MÔ THỰC HIỆN DỰ ÁN

 

  1. Hiện trạng kinh tế – xã hội vùng thực hiện dự án.

I.1. Điều kiện tự nhiên vùng thực hiện dự án.

Đắk Nông nằm trọn trên cao nguyên M’Nông, độ cao trung bình khoảng 600 m đến 700m so với mặt nước biển, có nơi lên đến 1.982m (Tà Đùng).

-Phía bắc và đông bắc giáp với địa phận tỉnh Đắk Lắk.

-Phía đông và đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía nam giáp tỉnh Bình Phước

– Phía tây giáp với Vương Quốc Campuchia với đường biên giới dài khoảng 120 km.

Nhìn tổng thể, địa hình Đăk Nông như hai mái của một ngôi nhà mà đường nóc là dãy núi Nam Nung, chạy dài từ Đông sang Tây, có độ cao trung bình khoảng 800m, có nơi cao đến hơn 1.500m. Địa hình có hướng thấp dần từ Đông sang Tây. Các huyện Đăk Song, Đăk Mil, Cư Jut, Krông Nô thuộc lưu vực sông Krông Nô, sông Srêpốk nên thấp dần từ Nam xuống Bắc. Các huyện Tuy Đức, Đăk Rlâp, Đăk Glong và thị xã Gia Nghĩa thuộc thượng nguồn lưu vực sông Đồng Nai nên thấp dần từ Bắc xuống Nam.

Vì vậy, Đăk Nông có địa hình đa dạng và phong phú, bị chia cắt mạnh, có sự xen kẽ giữa các núi cao hùng vĩ, hiểm trở với các cao nguyên rộng lớn, dốc thoải, lư­ợn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ các dải đồng bằng thấp trũng. Địa hình thung lũng thấp, có độ dốc từ 0-30 chủ yếu phân bố dọc sông Krông Nô, Sêrêpôk, thuộc các huyện Cư Jút, Krông Nô. Địa hình cao nguyên đất đỏ bazan chủ yếu ở Đắk Mil, Đắk Song, độ cao trung bình 600 – 800 m, độ dốc khoảng 5-100. Địa hình chia  cắt mạnh và có độ dốc lớn > 150 phân bố chủ yếu trên địa bàn các huyện Đăk Glong, Đắk R’Lấp.

Thời tiết khí hậu

  • Đăk Nông là khu vực chuyển tiếp giữa hai tiểu vùng khí hậu Tây Nguyên và Đông nam bộ, chế độ khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng có sự nâng lên của địa hình nên có đặc trưng của khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 11, tập trung trên 90% lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 3 năm sau, lượng mưa không đáng kể.
  • Nhiệt độ trung bình năm 22-230C, nhiệt độ cao nhất 350 C, tháng nóng nhất là tháng 4. Nhiệt độ thấp nhất 140C, tháng lạnh nhất vào tháng 12. Tổng số giờ nắng trong năm trung bình 2000-2300 giờ. Tổng tích ôn cao 8.0000 rất phù hợp với phát triển các cây trồng nhiệt đới lâu năm.
  • Lượng mưa trung bình năm 2.513 mm, lượng mưa cao nhất 3.000mm. Tháng mưa nhiều nhất vào tháng 8, 9; mưa ít nhất vào tháng 1, 2. Độ ẩm không khí trung bình 84%. Độ bốc hơi mùa khô 14,6-15,7 mm/ngày, mùa mưa 1,5-1,7 mm/ngày.
  • Hướng gió thịnh hành mùa mưa là Tây Nam, hướng gió thịnh hành mùa khô là Đông Bắc, tốc độ gió bình quân 2,4 -5,4 m/s , hầu như không có bão nên không gây ảnh hưởng đến kinh tế-xã hội.
  • Tuy nhiên cũng như các vùng khác của Tây Nguyên, điều bất lợi cơ bản về khí hậu là sự mất cân đối về lượng mưa trong năm và sự biến động lớn về biên độ nhiệt ngày đêm và theo mùa, nên yếu tố quyết định đến sản xuất và sinh hoạt là việc cấp nước, giữ nước và việc bố trí mùa vụ cây trồng.

Thủy văn:

Đắk Nông có mạng lưới sông suối, hồ, đập phân bố tương đối đều khắp. Đây là điều kiện thuận lợi để khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng các công trình thủy điện và phục vụ nhu cầu dân sinh.

Các sông chính chảy qua địa phận tỉnh gồm:

  • Sông Sêrêpôk  do hai nhánh sông Krông Nô và Krông Na hợp lưu với nhau tại thác Buôn Dray. Khi chảy qua địa phận huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, do kiến tạo địa chất phức tạp, lòng sông trở nên hẹp và dốc nên tạo ra các thác nước lớn hùng vĩ, vừa có cảnh quan thiên nhiên đẹp, vừa có tiềm năng thủy điện mang lại giá trị kinh tế. Đó là thác Trinh Nữ, Dray H’Linh, Gia Long, ĐraySap. Các suối Đắk Gang, Đắk Nir, Dray H’Linh, Ea Tuor, Đắk Ken, Đắk Klou, Đắk Sor cũng đều là thượng nguồn của sông Sêrêpôk.
  • Sông Krông Nô. Bắt nguồn từ dãy núi cao trên 2.000 m phía Đông Nam tỉnh Đắk Lắc, chảy qua huyện Krông Nô. Sông Krông Nô có ý nghĩa rất quan trọng đối với sản xuất và đời sống dân cư trong tỉnh. Còn nhiều suối lớn nhỏ khác suối Đắk Mâm, Đắk Rô, Đắk Rí, Đắk Nang là thượng nguồn của sông Krông Nô.
  • Hệ thống sông suối thượng nguồn sông Đồng Nai. Sông Đồng Nai dòng chảy chính không chảy qua địa phận Đắk Nông nhưng có nhiều sông suối thượng nguồn. Đáng kể nhất là: Suối Đắk Rung bắt nguồn từ khu vực Thuận Hạnh, Đắk Nông với chiều dài 90 km. Suối Đắk Nông có lưu lượng trung bình 12,44m3/s. Môduyn dòng chảy trung bình 47,9 m3/skm2.Suối Đắk Bukso là ranh giới giữa huyện Đắk Song và Đắk R’Lấp. Suối ĐắkR’Lấp có diện tích lưu vực 55,2 km2, là hệ thống suối đầu nguồn của thủy điện Thác Mơ. Suối Đắk R’Tih chảy về sông Đồng Nai, đầu nguồn của thủy điện ĐắkR’tih và thủy điện Trị An.
  • Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có nhiều hồ, đập lớn vừa có tác dụng giữ nước cho sản xuất nông, công nghiệp, thủy điện, vừa là tiềm năng để phát triển du lịch như Hồ Tây, EaSnô, Ea T’Linh, Đắk Rông, Đak Đier, ĐăkR’tih, Đồng Nai 3,4.v.v.
  • Chế độ lũ: Chịu sự chi phối mạnh của sông Krông Nô. Tại Đức Xuyên lũ lớn thường xảy ra vào tháng 9, 10. Hàng năm dòng sông này thường gây ngập lũ ở một số vùng thuộc các xã phía nam huyện Krông Nô. Lũ trên sông Sêrêpôk là tổ hợp lũ của 2 sông Krông Nô và Krông Na, lũ xuất hiện vào tháng 9 và 10.

Tài nguyên thiên nhiên

ü Tài nguyên đất:

Đăk Nông có tổng diện tích đất tự nhiên là 650.927 ha.

Về thổ nhưỡng: Đất đai Đăk Nông khá phong phú và đa dạng, nhưng chủ yếu gồm 05 nhóm chính: Nhóm đất xám trên nền đá macma axit và đá cát chiếm khoảng 40% diện tích và được phân bổ đều toàn tỉnh. Đất đỏ bazan trên nền đá bazan phong hóa chiếm khoảng 35% diện tích, có tầng dày bình quân 120 cm, phân bổ chủ yếu ở Đăk Mil, Đăk Song. Còn lại là đất đen bồi tụ trên nền đá bazan, đất Gley và đất phù sa bồi tụ dọc các dòng sông, suối.
Với tài nguyên đất đai nêu trên, Đăk Nông rất thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày như: Cà phê, cao su, chè, tiêu, điều trên nền đất xám, đất đỏ bazan. Đồng thời rất thích hợp cho phát triển một diện tích lớn cây hàng năm như lúa, ngô và các loại cây công nghiệp ngắn ngày khác trên đất đen bồi tụ, đất Gley và đất phù sa ven sông, suối.

ü Tài nguyên rừng

Diện tích đất lâm nghiệp có rừng 294.476 ha, độ che phủ toàn tỉnh đạt 45%. Rừng tự nhiên được phân bố đều khắp các huyện, tập trung chủ yếu ở vùng núi cao, có tác dụng phòng hộ đầu nguồn, chống xói mòn, bảo vệ môi sinh.
Chia theo mục đích sử dụng: đất có rừng sản xuất (kể cả rừng tự nhiên và rừng trồng) có 227.718 ha, chiếm 77,3% diện tích đất lâm nghiệp, phân bố ở hầu hết các huyện trong tỉnh; đất có rừng phòng hộ 37.500 ha, chiếm 12,7%, chủ yếu tập trung ở các huyện ĐắkR’Lấp, Đắk Nông, Đắk Mil, Đắk Song; đất có rừng đặc dụng 29.258 ha, tập trung chủ yếu ở Đắk Glong, Krông Nô, đây là khu rừng được sử dụng vào mục đích bảo tồn sinh thái, khai thác du lịch. Rừng trồng chủ yếu tập trung ở vùng các vùng gò đồi và núi thấp, khu vực gần dân cư.
Rừng tự nhiên ở Đắk Nông có nhiều hệ động vật và thực vật phong phú và đa dạng. Rừng phát triển tốt, những khu rừng nguyên sinh có nhiều loại gỗ quí và cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học. Trong rừng còn nhiều động vật quí hiếm như voi, gấu, hổ v.v. được ghi trong sách đỏ của nước ta và sách đỏ thế giới; có nhiều loại dược liệu quí là nguồn nguyên liệu dồi dào để chế thuốc chữa bệnh trong y học dân tộc. Đặc biệt, khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, Tà Đùng có những khu rừng nguyên sinh với nhiều cảnh quan, thác nước đẹp tạo nên quần thể du lịch hấp dẫn.

ü Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt do nguồn nước mưa cung cấp, tương đối dồi dào, thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt dân cư trên địa bàn toàn tỉnh. Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của khí hậu cao nguyên, lại nằm ở phía Tây, cuối dãy Trường Sơn nên vào mùa khô mưa ít, nắng nóng kéo dài. Nguồn nước ngầm, phân bố ở hầu khắp cao nguyên bazan và các địa bàn trong tỉnh, có trữ lượng lớn ở độ sâu 40-90m. Đây là nguồn cung cấp nước bổ sung cho sản xuất và sinh hoạt vào mùa khô, được sử dụng phổ biến cho sinh hoạt, làm kinh tế vườn, kinh tế trang trại.

ü Tài nguyên khoáng sản 

Theo điều tra đến năm 2010, đã phát hiện trên địa bàn tỉnh Đăk Nông có 178 mỏ và điểm mỏ khoáng sản với 16 loại khoáng sản chủ yếu: bauxit, wolfram, antimoal, bazan bọt; bazan cột, bazan khối, cát xây dựng, đá bazan, đá granit, sét gạch ngói, than bùn, opal, thiếc sa khoáng, kaolin, nước khoáng thiên nhiên, saphir. Bô xít: Phân bố ở thị xã Gia Nghĩa, các huyện Đắk GLong, Đắk R’Lấp, Đắk Song nhưng tập trung chủ yếu ở thị xã Gia Nghĩa và huyện Đắk GLong. Trữ lượng dự đoán 5,4 tỉ tấn, trữ lượng thăm dò 2,6 tỉ tấn, hàm lượng Al2O3 từ 35-40%. Trên bề mặt của mỏ quặng có lớp đất bazan tốt, hiện có rừng hoặc cây công nghiệp dài ngày. Khó khăn cho việc khai thác hiện nay là chưa có đường giao thông, thiếu năng lượng, nguồn nước để rửa quặng và vốn đầu tư.
Khoáng sản quí hiếm: Khu vực xã Trường Xuân, huyện Đắk Song là nơi có nguồn tài nguyên đặc biệt quí hiếm là vàng, đá quí ngọc bích, saphia trắng và các khoáng sản khác như Wolfram, thiếc, antimoal trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa, huyện Đắk GLong, Cư Jút.

Ngoài ra, còn có các tài nguyên khá phong phú là nguyên liệu cho sản xuất vật liệu xây dựng như đất sét, phân bố rải rác trên địa bàn một số huyện, có thể khai thác công nghiệp, sản xuất gạch, ngói phục vụ nhu cầu xây dựng các công trình kinh tế-xã hội cũng như xây dựng dân dụng cho khu vực dân cư trên địa bàn tỉnh. Sét cao lanh làm gốm sứ cao cấp phân bố tập trung ở huyện Đắk Glong, thị xã Gia Nghĩa; puzơlan làm nguyên liệu cho xi măng, gạch ceramic; đá bazan bọt làm nguyên liệu sản xuất gạch ốp lát cách âm, cách nhiệt, sợi chịu nhiệt v.v.

Nguồn nước khoáng có ở Đắk Mil sâu 180 m khả năng khai thác rất lớn, khoảng 570 m3/ngày đêm và khí CO2 đồng hành khoảng 9,62 tấn/ngàyđêm. Hiện tại chỉ mới khai thác khí CO2.

I.2. Điều kiện xã hội vùng dự án.

  1. Tình hình kinh tế

Trong năm 2014

– Tăng trưởng kinh tế đạt 12,2 %/kế hoạch là trên 13%;

– GRDP bình quân đầu người đạt 32,75 triệu đồng/kế hoạch 32 triệu đồng;

– Tổng mức lưu chuyển hàng hóa đạt 10.500 tỷ đồng/kế hoạch 10.500 tỷ đồng;

– Kim ngạch xuất khẩu đạt 686 triệu USD/kế hoạch 600 triệu USD; Kim ngạch nhập khẩu đạt 110 triệu USD/kế hoạch 60 triệu USD;

– Thu ngân sách nhà nước đạt 1.354 tỷ đồng/kế hoạch 1.400 tỷ đồng; Chi ngân sách 5.520 tỷ đồng/kế hoạch 4.305 tỷ đồng;

Tăng trưởng kinh tế nội tỉnh giữ tốc độ ổn định và đạt khá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, các chỉ số kinh tế đều cho dấu hiệu tích cực. GRDP bình quân đầu người ước đạt 32,75 triệu đồng, vượt kế hoạch đề ra.

Sản xuất nông nghiệp ổn định, phương thức sản xuất có bước phát triển, bộ mặt nông thôn dần được thay đổi. Ngành trồng trọt phát triển khá, tăng cả về sản lượng và năng suất. Các cây trồng lâu năm phát triển ổn định, sản lượng cây hồ tiêu tăng mạnh, đời sống của của bà con nông dân dần được cải thiện, bộ mặt nông thôn thay đổi tích cực. Ngành chăn nuôi phát triển khá cả về quy mô và phương thức, đàn gia súc, gia cầm, thủy sản tăng so với cùng kỳ,người dân đang chuyển dần từ chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún sang chăn nuôi quy mô tập trung, trang trại. Công tác khai thác, quản lý, giao khoán và trồng rừng có nhiều tiến bộ, không để xảy ra cháy rừng. Đẩy nhanh xây dựng nông thôn mới, đạt chỉ tiêu đề ra, nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao được người dân ứng dụng.

Sản xuất công nghiệp tiếp tục đà phục hồi, tăng khá so với cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 10%. Đa số các nhà máy gặp khó khăn năm trước đã tái hoạt động, sản xuất kinh doanh ổn định.

Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch tăng trưởng khá, đáp ứng cơ bản nhu cầu của nhân dân. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tăng so với cùng kỳ. Cung cầu hàng hoá đa dạng, ổn định. Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh so với cùng kỳ. Hoạt động tín dụng, ngân hàng được mở rộng, tăng trưởng tín dụng đạt cao. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả năm giữ ổn định, hoạt động du lịch và vận tải tăng trưởng mạnh.

Tiếp tục huy động hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển, doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khá. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 1.354 tỷ đồng, xấp xỉ đạt dự toán. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội vượt kế hoạch đề ra. Phát triển doanh nghiệp đạt khá, số doanh nghiệp giải thể và ngưng hoạt động giảm mạnh, doanh nghiệp có xu hướng mở rộng sản xuất kinh doanh. Thu hút đầu tư tăng trưởng khá, đẩy mạnh vận động và giải ngân nguồn vốn ODA, thực hiện rà soát các dự án được cấp phép, nắm bắt tình hình của các dự án, hỗ trợ kịp thời cho nhà đầu tư.

Quy mô và chất lượng giáo dục đào tạo được nâng cao, ứng dụng khoa học công nghệ được chú trọng, công tác giải quyết việc làm và đào tạo nghề có tiến bộ. Chất lượng giáo dục tiếp tục được nâng cao, quy mô được mở rộng, cơ sở vật chất dần đáp ứng tốt hơn nhu cầu dạy và học. Các chỉ tiêu giáo dục đạt khá, kỳ thi tốt nghiệp diễn ra an toàn, nghiêm túc, tỷ lệ đậu cao, chuẩn bị tốt cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực cho năm học mới. Giải quyết việc làm đạt kế hoạch đề ra, nhân rộng các mô hình dạy nghề có hiệu quả, xây dựng mô hình đào tạo nghề gắn với các làng nghề, vùng chuyên canh, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng so với cùng kỳ.

  1. Tình hình xã hội

Tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh là 636.000 người. Cơ cấu dân tộc đa dạng chủ yếu là dân tộc Kinh,  M’Nông, Tày, Thái, E Đê, Nùng. Dân tộc kinh chiếm tỷ lệ khoảng 65,5%; M Nông chiếm 9,7%, các dân tộc khác chiếm tỷ lệ nhỏ.

Dân cư phân bố không đều trên địa bàn các huyện, nơi đông dân cư chủ yếu tập trung ở các trung tâm xã, thị trấn huyện lỵ, ven các trục đường quốc lộ, tỉnh lộ. Có những vùng dân cư thưa thớt như một số xã của huyện Đắk Glong, Tuy Đức.

Tình hình xã hội của Đắk Nông năm 2014

– Số lao động được giải quyết việc làm đạt 18.000 ngàn lượt/kế hoạch 18.000 ngàn lượt;

– Đạt 7 trường học được công nhận đạt chuẩn quốc gia/kế hoạch được công nhận thêm 07 trường;

– Đạt 6,2 bác sỹ/vạn dân trên kế hoạch 6 bác sỹ/vạn dân; Đạt 16,5 giường bệnh/vạn dân trên kế hoạch 16,5 giường bệnh/vạn dân;

– Tỉ lệ hộ nghèo giảm 2,14%/kế hoạch giảm 3%; Tỉ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số giảm 4,01%/kế hoạch giảm trên 5%.

  1. II. Quy mô sản xuất của dự án.

….


Tải để xem thêm

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*