Nhà máy sản xuất chế biến phế phẩm thủy sản bột cá, bột tôm, bột ruốc, dịch cá

CHƯƠNG I. MỞ ĐẦU

 I. Giới thiệu về chủ đầu tư.

Chủ đầu tư : CÔNG TY TNHH MTV SX TM XK ĐP

Mã số thuế :

Đại diện pháp luật:                    Chức vụ: Giám Đốc

Địa chỉ trụ sở: Ấp Hòa Trung, Xã Lương Thế Trân, Huyện Cái Nước, Tỉnh Cà Mau, Việt Nam.

 II. Mô tả sơ bộ thông tin dự án.

  • Tên dự án: Đầu tư xây dựng “Nhà máy sản xuất chế biến phế phẩm thủy sản bột cá, bột tôm, bột ruốc, dịch cá”.
  • Địa điểm xây dựng : KCN Hòa Trung, xã Lương Thế Trân, Huyện Cái Nước, Tỉnh Cà Mau.
  • Hình thức quản lý: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý điều hành và khai thác dự án.
  • Tổng mức đầu tư : 950.782.956 đồng. Trong đó:
  • Vốn tự có (tự huy động) : 716.925.589 đồng.
  • Vốn vay tín dụng: 50.233.857.367 đồng.

III. Sự cần thiết xây dựng dự án.

Bột cá, bột tôm, bột ruốc, dịch cá là nguồn thức ăn bổ sung protein động vật có chất lượng cao, đầy đủ các axit amin không thay thế như lysine, methionine, isoleucine.. (Fin, 1999), các nguyên tố khoáng và một số vitamin quan trọng như vitamin B12, D, E…  Hiện  nay, hàng năm nước ta sản xuất được khoảng  6,000  – 9,000 tấn bột cá, phần lớn các cơ sở sản xuất bột cá đều tập trung ở các tỉnh phía Nam như: Kiên Giang, Cà Mau,Vũng Tàu… và  đã cung cấp cho thị trường nhiều loại bột cá: bột cá Ba Hòn, Tô Châu, bột cá Đà Nẵng, bột cá Cà Mau, bột cá Minh Hải, bột cá Kiên Giang, bột tôm, bột ruốc Thuận Thành… Song, nguồn bột cá, bột tôm,… trong nước còn chưa đáp ứng được cả về chất lượng và số lượng cho ngành chăn nuôi nói chung và ngành chế biến thức ăn gia súc nói riêng. Ước tính nhu cầu về bột cá hiện nay ở nước ta là 100.000 tấn/năm. Vì vậy, hàng năm nước ta vẫn phải bỏ ra một lượng ngoại tệ không nhỏ để nhập khoảng 26.000 tấn bột cá từ một số nước như: Pêru, Chi lê, Malaysia, Thái Lan…

Với niềm tin sản phẩm do chúng tôi tạo ra sẽ được người tiêu dùng trong nước ưa chuộng, với niềm tự hào sẽ góp phần tăng giá tri ̣tổng sản phẩm công nghiệp, tăng thu nhâp̣ và nâng cao đời sống của nhân dân và tạo việc làm cho lao động tại địa phương, chúng tôi tin rằng dự án đầu tư xây dựng:
“Nhà máy sản xuất chế biến phế phẩm thủy sản bột cá, bột tôm, bột ruốc, dịch cá” là sự đầu tư cần thiết trong  giai đoạn hiện nay.

IV. Các căn cứ pháp lý.

– Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

– Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

– Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

– Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2013 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

– Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng;

– Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng;

– Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng;

– Nghị định 118/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư;

– Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;

– Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm  2014  của Chính phủ quy định về giá đất;

– Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ V/v Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;

– Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn;

– Quyết định số 537/ QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ  ngày 04/04/2016 Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030

– Quyết định số 79/QĐ-BXD ngày 15 tháng 02 năm 2017 của Bộ Xây dựng về việc công bố định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng;

– Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường;

– Quyết định số 68/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15 tháng 01 năm 2018 phê duyệt điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050.

– Quyết định số 537/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 4 tháng 4 năm 2016 về việc Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tình Cà Mau đến năm 2020 và định hướng năm 2030.

V. Mục tiêu dự án.

V.1. Mục tiêu chung.

  • Góp phần xây dựng phát triển ngành công nghiệp chế biến thuỷ hải sản của tỉnh Cà Mau;
  • Phát huy tiềm năng, thế mạnh của Công ty, kết hợp với công nghệ chế biến tiên tiến để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, cung cấp cho thị trường;
  • Góp phần phát triển nền kinh tế của tỉnh nhà và các tỉnh lân cận trong việc thu mua nguyên liệu để sản xuất chế biến của dự án.
  • Giải quyết việc làm, góp phần nâng cao thu nhập.

V.2. Mục tiêu cụ thể.

Dự án đầu tư xây dựng dây chuyền thiết bị đồng bộ, hiện đại để sản xuất chế biến các sản phẩm bột ( tôm, cá, ruốc) và dịch cá với sản lượng hàng năm cụ thể, như sau:

+ Bột tôm, cá, ruốc : 9.360 tấn /năm.

+ Dịch cá : 9.360 tấn/năm.

Chương II

ĐỊA ĐIỂM VÀ QUY MÔ THỰC HIỆN DỰ ÁN

  1. Hiện trạng kinh tế – xã hội vùng thực hiện dự án.

I.1. Điều kiện tự nhiên vùng thực hiện dự án.

  1. Vị trí địa lý.

Cà Mau là tỉnh cực nam của Việt Nam, thuộc khu vực Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, được tái lập ngày 01/01/1997. Lãnh thổ gồm 2 phần: phần đất liền và vùng biển chủ quyền:

  • Phần đất liền: Diện tích 5.294,87 km², xếp thứ 2 và bằng 12,97% diện tích khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, bằng 1,58% diện tích cả nước. Trong đó, diện tích đất nuôi trồng thủy sản trên 266.735 ha, đất trồng lúa 129.204 ha, đất lâm nghiệp 103.723 ha.
  • Nằm ở 8º34’ đến 9º33’ vĩ độ Bắc và 104º43’ đến 105º25’ kinh độ Đông, cách thành phố Hồ Chí Minh 370 km, cách thành phố Cần Thơ 180 km về phía nam. Theo đường chim bay, từ bắc tới nam dài 100 km.
  • Phía bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía đông bắc giáp tỉnh Bạc Liêu, phía đông và đông nam giáp biển Đông và phía tây giáp Vịnh Thái Lan. Cà Mau nằm trên bán đảo, có vị trí địa lý khá đặc biệt, với ba mặt tiếp giáp biển. Mũi Cà Mau là nơi duy nhất trên đất liền có thể ngắm được mặt trời mọc lên từ mặt biển Đông vào buổi sáng và lặn xuống mặt biển Tây vào buổi chiều. Cà Mau nằm ở trung tâm vùng biển các nước Đông Nam Á nên rất thuận lợi giao lưu, hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực.
  • Vùng biển: Vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam do tỉnh Cà Mau quản lý có diện tích 71.000 km². Trong đó, có đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Buông và Hòn Đá Bạc.
  1. Khí hậu

Cà Mau là tỉnh đồng bằng ven biển, nằm trong khu vực nội chí tuyến bắc bán cầu, cận xích đạo, đồng thời nằm trong khu vực gió mùa châu Á nên khí hậu Cà Mau ôn hoà thuộc vùng cận xích đạo, nhiệt đới gió mùa, có 2  mùa mưa nắng rõ rệt.

  • Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, trung bình từ 170 đến 200 ngày/ năm. Vùng biển phía tây và khu vực tây nam của tỉnh, mùa mưa mưa thường bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn các khu vực khác. Lượng mưa trung bình giữa các tháng vào mùa mưa chênh lệch nhau không nhiều và nằm trong khoảng từ 200mm đến 400mm/ tháng.
  • Mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình cả năm dao động từ 26,6ºC đến 27,7ºC; nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là vào tháng 4 và tháng 5, khoảng 28,6ºC. Riêng từ năm 2001 đến 2005 nhiệt độ trung bình tháng 4 dao động từ 29,2ºC đến 29,7ºC. Nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 1, khoảng 25,6ºC. Như vậy, chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất khoảng 3,0ºC.
  • Giờ nắng trung bình cả năm 2.269 giờ. Lượng bốc hơi trung bình hàng năm khoảng 1.000 mm; mùa khô (tháng 3 – tháng 4) có lượng bốc hơi gần 130 mm/tháng. Độ ẩm trung bình năm là 83%, mùa khô độ ẩm thấp, đặc biệt vào tháng 3, độ ẩm thường đạt khoảng 50%.
  • Chế độ gió vừa chịu ảnh hưởng của đặc trưng cho vùng nhiệt đới lại vừa chịu ảnh hưởng của các cơ chế gió mùa khu vực Đông Nam Á. Hàng năm, có 2 mùa gió chủ yếu: gió mùa đông (gió mùa đông bắc) từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau và gió mùa hạ (gió mùa tây nam), bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10. Mùa khô hướng gió thịnh hành theo hướng đông bắc và đông. Mùa mưa gió thịnh hành theo hướng tây nam hoặc tây. Tốc độ gió trung bình hàng năm ở Cà Mau nhỏ, trong đất liền chỉ từ 1,0 đến 2,0m/giây, ngoài khơi gió mạnh hơn cũng chỉ đạt 2,5 đến 3,5m/giây. Vào mùa mưa, thỉnh thoảng có dông hay lốc xoáy tới cấp 7, cấp 8. Bão tuy có nhưng không nhiều và không lớn. Thời tiết, khí hậu ở Cà Mau thuận lợi cho phát triển ngư – nông – lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn.
  1. Các nguồn tài nguyên.

3.1 Tài nguyên đất

Cà Mau là vùng đất mới do phù sa bồi tụ, được hình thành bởi 2 dòng hải lưu ở biển Đông và Vịnh Thái Lan, nhận phù sa của sông Cửu Long bồi đắp. Nhìn chung đất đai của tỉnh là đất trẻ, mới được khai phá sử dụng, có độ phì nhiêu trung bình khá, hàm lượng chất hữu cơ cao nhưng do bị nhiễm phèn, nhiễm mặn nên thích hợp cho việc nuôi trồng thủy sản, trồng rừng ngập mặn, ngập lợ.

Cà Mau có các nhóm đất chính:

  • Nhóm đất mặn có diện tích 208.496 ha, hiếm 40% diện tích tự nhiên. Đất mặn phân bố chủ yếu ở các huyện Đầm Dơi, Cái Nước, Ngọc Hiển, Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình và thành phố Cà Mau.
  • Nhóm đất phèn có diện tích 271.926 ha, chiếm 52,18% diện tích tự nhiên; phân bố chủ yếu ở các huyện Thới Bình, U Minh và Trần Văn Thời.
  • Nhóm đất phèn nhiễm mặn phân bố ở những vùng ven biển. Đối với diện tích đất phèn không ngập mặn có thể trồng lúa trong mùa mưa, trồng các cây công nghiệp chịu phèn như: mía, khóm, chuối, tràm… Đối với diện tích phèn bị ngập mặn có thể trồng rừng ngập mặn, nuôi thuỷ sản.
  • Ngoài ra, còn có nhóm đất than bùn, với diện tích khoảng 8.000 ha, phân bố ở các huyện U Minh, Trần Văn Thời và nhóm đất bãi bồi với diện tích 15.488 ha, phân bố ở các huyện Ngọc Hiển và Cái Nước.

Diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh là 351.355 ha, chiếm 67,63%; đất lâm nghiệp có rừng là 104.805 ha, chiếm 20,18%; đất chuyên dùng có 17.072 ha, chiếm 3,29%; đất ở có 5.502 ha, chiếm 1,06%; đất chưa sử dụng và sông suối có 40.773 ha, chiếm 7,85%.

  • Tài nguyên rừng

Đến năm 2012, Cà Mau có tổng diện tích rừng khoảng 103.723 ha, chiếm 77% rừng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chủ yếu là rừng ngập nước. Trong đó, rừng tự nhiên 9.179ha, rừng trồng 94.544ha. Cà Mau có 3 loại rừng chính:

  1. Rừng ngập mặn (rừng đước Cà Mau):

Rừng ngập mặn Cà Mau có hệ sinh thái độc đáo và đa dạng, đứng thứ 2 trên thế giới, sau rừng Amazôn ở Nam Mỹ. Rừng ngập mặn Cà Mau có diện tích gần 69.000ha. Trong đó, tập trung ở các huyện Ngọc Hiển, Năm Căn, Đầm Dơi và Phú Tân.

Rừng ngập mặn Cà Mau là một thảm thực vật với nhiều loài cây như: đước, mắm, vẹt, bần, dá, su, cóc, dà, chà là, dương xỉ, dây leo… Trong đó, đước là loài cây chiếm đại đa số và có giá trị kinh tế cao. Theo số liệu thống kê của Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng rừng ngập Minh Hải (12/1998), rừng ngập mặn Cà Mau có 101 loài cây. Trong đó, có 32 loài cây chính thức thuộc 27 họ.

Rừng ngập mặn Cà Mau: có 28 loài thú, thuộc 12 họ. Trong đó, 5 loài có trong sách đỏ Việt Nam, 1 loài trong sách đỏ IUCN, như bộ linh trưởng (khỉ đuôi dài, voọc), bộ móng guốc ngón chẵn(heo rừng), bộ ăn thịt (chồn mướp, cáo mèo, cáo cộc, rái cá…), 74 loài chim, 17 loài bò sát, 5 loài lưỡng cư, 14 loài tôm, 175 loài cá, 133 loài động thực vật phiêu sinh.

  1. Rừng ngập lợ (rừng tràm U Minh)

Rừng tràm U Minh có tổng diện tích khoảng 35.000 ha. Tập trung ở các huyện U Minh, Trần Văn Thời và Thới Bình. Rừng tràm U Minh thuộc hệ sinh thái đất ngập nước nội địa, với rừng tràm trên đất phèn và đất than bùn. Cùng với U Minh Thượng (Kiên Giang) là một trong hai nơi duy nhất ở Việt Nam có hệ sinh thái rừng này, đồng thời là vùng đất ngập nước quan trọng và có giá trị trong vùng hạ lưu sông Mê Kông và Đông Nam Á. Đặc trưng cơ bản của bồn trũng U Minh là quá trình nâng lên của thế đất hình dạng lòng chảo, mà trung tâm bồn trũng là hệ sinh thái rừng U Minh Hạ, với diễn thế tự nhiên của hệ sinh thái rừng ngập mặn chuyển hẳn sang rừng tràm khi tiến sâu vào nội địa và ngọt hóa dần bồn trũng.

Rừng tràm U Minh có giá trị cao về đa dạng sinh học và đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định đất, thủy văn, trữ nước ngọt, cung cấp nước ngọt cho người và động vật hoang dã; ngăn cản việc chua hóa đất đai, điều hòa khí hậu, bảo tồn tính đa dạng sinh học vùng rừng ngập nội địa.

Rừng ngập lợ cây tràm chiếm ưu thế tuyệt đối, dưới tán rừng có nhiều loài dây leo và cây nhỏ khác. Có nhiều loài động vật như heo rừng, khỉ, chồn, trăn, rắn, rùa, trúc (tê tê)… và có 60 loài cá nước ngọt và cá nước lợ sinh sống trú ngụ. Đặc biệt, ong mật rừng tràm nhiều và hàng năm cho khai thác sản lượng lớn.

  1. Rừng trên đảo Hòn Khoai, Hòn chuối, Hòn Đá Bạc

Ngoài ra, trên các cụm đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối có trên 710 ha rừng, với nhiều loại gỗ quý và động vật sinh sống dưới tán rừng.

  • Tài nguyên khoáng sản
  • Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, trong vùng biển Cà Mau đã phát hiện có trữ lượng dầu khí khá lớn, nhiều triển vọng khai thác và phát triển công nghiệp dầu khí. Theo báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển khí Tây Nam và nghiên cứu khả thi đường ống dẫn khí Tây Nam của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, tại vùng bồn trũng Malay – Thổ Chu phía Tây Nam đã có các phát hiện về khí có giá trị tại khu vực PM – 3 – CAA. Chỉ riêng các khu vực đang thăm dò – khai thác và một số lô có tài liệu khảo sát đã cho trữ lượng tiềm năng khoảng 172 tỷ m3, trong đó đã phát hiện 30 tỷ m3. Khả năng phát triển và khai thác tối đa các mỏ khí dự báo có thể đạt sản lượng khai thác đỉnh là 8,25 tỷ m3/năm.
  • Rừng tràm U Minh có trữ lượng than bùn lớn nhất cả nước. Số liệu điều tra cơ bản năm 1987, Cà Mau còn khoảng 75 triệu tấn than bùn, với diện tích khoảng 14.000 ha, có nơi lớp than bùn dày hơn 1 mét. Những năm gần đây diện tích và trữ lượng than bùn ở rừng U Minh bị suy giảm do cháy rừng gây ra. Diện tích rừng có than bùn còn khoảng 5000 ha. Than bùn U Minh có thể sử dụng làm chất đốt, phân hữu cơ vi sinh và các chế phẩm khác.
  • Trên 2 hòn đảo: Hòn Khoai và Hòn Đá Bạc còn có đá macma có thể làm đá hộc, đá mi, đá chẻ, ốp lát. Nhưng trữ lượng không lớn, lại nằm xa bờ nên tỉnh không đưa vào khai thác, sử dụng.
  • Đất sét  được phát hiện 2 mỏ và 1 điểm sét gạch ngói.
  • Điểm sét gạch ngói Tân Thành, thành phố Cà Mau được phát hiện vào tháng 6/1996. Thân khoáng sản lộ trên mặt dưới dạng cánh đồng lúa phẳng, có độ cao tuyệt đối khoảng 0,7 – 1,0m. Phạm vi phân bố được xác định chiều dài khoảng 1.250m, rộng 500m.
  • Mỏ sét gạch ngói Giồng Kè, thuộc khóm 3, phường 1, thành phố Cà Mau. Mỏ này được khai thác sản xuất gạch từ năm 1990, có chiều dài khoảng 750m, rộng 250m.

Mỏ sét gạch ngói ấp Chánh, xã Lương Thế Trân, huyện Cái Nước cách trung tâm thành phố Cà Mau khoảng 10 km, phân bố ở độ cao 0,7 đến 1,0m. Thân khoáng sản lộ ngay trên mặt đất dưới dạng cánh đồng bằng phẳng, có chiều dài khoảng 1.500m, rộng khoảng 250m.

3.3 Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt (bao gồm nước mặt sông, kênh, rạch, kênh đào, đồng ruộng, nước ven biển) của tỉnh Cà Mau chủ yếu là nước mưa và nước từ biển vào theo các nhánh sông. Nguồn nước mặt là nước ngọt chủ yếu tập trung ở khu vực rừng tràm U Minh hạ, vùng sản xuất nông nghiệp phía bắc huyện Trần Văn Thời và huyện Thới Bình. Đây là nguồn nước mưa được giữ tại chỗ, do đó thích hợp cho phát triển chăn nuôi, trồng trọt và nuôi cá đồng.

  • Nguồn nước mặt là nước lợ, nước mặn (đây là nguồn nước được đưa vào từ biển, hoặc pha trộn với nguồn nước mưa) chiếm phần lớn nguồn nước mặt của tỉnh và thích hợp cho phát triển nuôi trồng thủy sản.

Nguồn nước ngầm (nước dưới đất) của tỉnh Cà Mau có trữ lượng rất lớn, dễ khai thác. Theo kết quả đánh giá cho thấy, trữ lượng nước ngầm trong toàn tỉnh Cà Mau khoảng 5,8.106m3/ngày. Trong đó, nước có thể sử dụng được cho sinh hoạt đến tầng 2 khoảng 5,2 triệu m3/ngày. Đây là nguồn nước chính phục vụ sản xuất công nghiệp và sinh hoạt của nhân dân.

  • Nguồn nước khoáng: kết quả thăm dò cho thấy tỉnh Cà Mau có 3 nguồn nước khoáng. Bao gồm:
  • Nguồn nước khoáng thị trấn Thới Bình, huyện Thới Bình: Thuộc lỗ khoan S147, nằm gần ngã ba sông, do Đoàn 804 thi công năm 1996. Nguồn nước khoáng được phát hiện trong lỗ khoan sâu 258m, lưu lượng 23 lít/giây. Kết quả phân tích cho thấy, nước khoáng Thới Bình có thành phần hóa học bicarbonat natri, khoáng hóa thấp, được xếp loại nước khoáng silic, ấm. Hiện nay, nguồn nước khoáng này được khai thác, cấp nước sinh hoạt.
  • Nguồn nước khoáng Cà Mau: thuộc lỗ khoan 215, do Đoàn 802, thuộc Liên đoàn địa chất thủy văn thi công năm 1996, nằm trong khuôn viên trụ sở cũ của Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy Công an tỉnh Cà Mau (phường 2, thành phố Cà Mau). Nước xuất hiện ở lỗ khoan sâu 328m. Kết quả phân tích cho thấy, đây là nước khoáng bicarbonat natri, khoáng hóa thấp đoạn trên và vừa đoạn dưới, được xếp vào loại nước ấm đoạn trên và nước khoáng hóa  ấm đoạn dưới.

Nguồn nước khoáng Năm Căn: Thuộc lỗ khoan S141, gần trụ sở UBND huyện Năm Căn (địa bàn thị trấn Năm Căn). Nguồn nước được phát hiện ở lỗ khoan sâu 257m, lưu lượng 11 lít/giây, độ hạ thấp mực nước 21,89m. Kết quả phân tích cho thấy, đây là nước khoáng bicarbonat – clorut – sulfat natri, khoáng hóa vừa, được xếp vào nước khoáng hóa ấm. Hiện nay, nguồn nước khoáng này được khai thác, cấp nước sinh hoạt.

  • 5 Tài nguyên biển
  • Cà Mau có chiều dài bờ biển trên 254 km, chiếm 1/3 chiều dài bờ biển vùng ĐBSCL, bằng 7,8% chiều dài bờ biển của cả nước và có nhiều cửa sông ăn thông ra biển như: Gành Hào, Bồ Ðề, Ông Ðốc, Ông Trang, Bảy Háp, Khánh Hội…Trên biển có đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Buông và Hòn Đá Bạc, rất thuận tiện cho tàu thuyền neo đậu, trú bão, phát triển kinh tế biển. Biển Cà Mau có diện tích thăm dò khai thác rộng khoảng 71.000 km2, được đánh giá là một trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước, có trữ lượng hải sản lớn và phong phú về chủng loại. Trữ lượng cá nổi ước khoảng 320 ngàn tấn, cá đáy 530 ngàn tấn, với 661 loài, 319 giống, thuộc 138 họ. Nhiều loại tôm cá có giá trị và sản lượng lớn như tôm, mực, ghẹ, cá hồng, cá sạo, cá thu, cá chim, cá mú, cá bớp… Vùng mặt nước ven biển có khả năng nuôi các loại thủy sản như nghêu, sò huyết, hàu, tôm nước mặn…có giá trị kinh tế cao. Sản lượng khai thác, đánh bắt thuỷ sản khoảng 300 ngàn tấn/năm.

Nuôi trồng thuỷ sản ở Cà Mau phát triển mạnh, với tổng diện tích trên 266.735ha. Trong đó, chủ yếu nuôi quảng canh truyền thống, quảng canh cải tiến, công nghiệp, bán công nghiệp, với các mô hình chuyên tôm, tôm – rừng, tôm – lúa kết hợp. Nuôi tôm công nghiệp đạt năng suất từ 5 tấn/ha/vụ. Cà Mau sản xuất khoảng 8 tỷ con giống mỗi năm, đã giải quyết một phần về nhu cầu con giống cho nghề nuôi trồng thuỷ sản. Nhu cầu về con giống thực tế cần khoảng 12 tỷ con giống mỗi năm.

Biển Cà Mau tiếp giáp với các nước Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, gần tuyến hàng hải quốc tế nên có nhiều thuận lợi giao lưu, hợp tác kinh tế bằng đường biển, phát triển kinh tế biển, khai thác dầu khí và tài nguyên khác trong lòng biển

I.2. Điều kiện kinh tế – xã hội vùng dự án.

ü Thủy sản

Thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Cà Mau và trở thành tỉnh dẫn đầu cả nước về nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thủy sản trong nhiều năm.

Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản năm 2016 ước đạt 480.000 tấn (kế hoạch 530.000 tấn), bằng 90,6% kế hoạch, giảm 4% so với năm 2015. Trong đó, sản lượng tôm ước đạt 156.000 tấn, bằng 83,6% kế hoạch, giảm 3,3% so với năm 2015.

Sản xuất thủy sản đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cho tỉnh nhà, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất cho nông dân ở các vùng ven biển và nông thôn, cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu, góp phần đem lại cho tỉnh mỗi năm hàng trăm triệu đô la, đưa Cà Mau trở thành tỉnh có kim ngạch xuất khẩu thủy sản cao nhất nước, đem lại nguồn thu ngoại tệ cho nước nhà.

Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 297.200 ha. Trong đó, diện tích nuôi tôm khoảng 266.000 ha. Đến cuối tháng 11/2016, diện tích nuôi tôm công nghiệp đạt 9.587 ha (kế hoạch đến cuối năm 2016 đạt 11.000 ha), tăng 3,3% so cùng kỳ. Trong đó, diện tích đang thả nuôi chiếm 40% (có 175 ha nuôi ứng dụng quy trình công nghệ cao); diện tích nuôi tôm quảng canh cải tiến đạt 90.552 ha (kế hoạch đến cuối năm 2016 đạt 90.000 ha), tăng 16% so cùng kỳ, năng suất bình quân đạt trên 500 kg/ha/năm; tôm nuôi quảng canh truyền thống phát triển ổn định, diện tích đang nuôi đạt 95% diện tích, năng suất bình quân từ 250 – 300 kg/ha/năm; nuôi xen canh giữa tôm quảng canh truyền thống với cua, sò huyết khá hiệu quả.

  • Ngoài ra, phong trào nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh theo quy mô trang trại, hộ gia đình và đã đem lại kết quả cao. Chủng loại nuôi thủy sản rất đa dạng như tôm sú, tôm thẻ chân trắng, tôm càng xanh, cua biển, hàu lồng, sò huyết, nghêu, vọp, ốc len, cá chình, bống tượng, ba ba, cá nước ngọt..

Cà Mau có 3 mặt giáp biển, với 254 km bờ biển, có ngư trường rộng trên 100.000 km², có nhiều nguồn lợi thủy sản nên nghề khai thác thủy sản trên biển rất phát triển. Tỉnh Cà Mau có 4.563 phương tiện khai thác biển, với tổng công suất 581.099 CV. Trong đó, có 3.256 phương tiện có công suất từ 20 CV trở lên. Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản có nhiều tiến bộ, các nghề, các phương thức khai thác gây sát hại nguồn lợi thủy sản từng bước được kiểm soát và hạn chế; công tác đăng ký, đăng kiểm, cấp giấy phép hoạt động tàu cá được triển khai khá đồng bộ; việc tái tạo nguồn lợi như: thả tôm, cá giống ra biển được tiến hành theo định kỳ.

Để khai thác có hiệu quả nguồn lợi thủy sản, tỉnh Cà Mau đã đầu tư nhiều tàu thuyền và được trang bị các thiết bị hiện đại như máy định vị, tầm ngư… Cơ sở hạ tầng cho nghề khai thác biển được tỉnh tập trung đầu tư xây dựng như Cảng cá Cà Mau, Cảng cá sông Ông Đốc, Cảng cá Hòn Khoai và nhiều khu neo đậu đậu, trú bão cho các tàu thuyền.

Để phát triển ngành thủy sản theo hướng hội nhập quốc tế, nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để đổi mới công nghệ, mua sắm thiết bị và nâng cấp nhà xưởng. Tổng công suất thiết kế đạt trên 150.000 tấn thành phẩm/năm. Hiện nay, công nghệ chế biến thủy sản ở Cà Mau đã ngang tầm với nhiều quốc gia trên thế giới. Các mặt hàng chế biến ngày đa dạng, phong phú, chất lượng không ngừng được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu của nhiều thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, Úc và EU… Năm 2016, Cà Mau có 34 nhà máy chế biến thủy sản, công suất 150.000 tấn thành phẩm/năm, kim ngạch xuất khẩu tôm đạt gần 01 tỷ USD, chiếm 33% kim ngạch xuất khẩu tôm của cả nước, giải quyết việc làm cho 300.000 người.

  • ü Nông nghiệp
  • Sản xuất nông nghiệp ở Cà Mau chuyển dịch theo hướng vừa khai thác thế mạnh về lúa ở vùng trọng điểm lúa để đảm bảo an ninh lương thực vừa chuyển đổi một phần đất lúa năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản có hiệu quả hơn. Trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất những năm qua, nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng thúc đẩy kinh tế phát triển, đáp ứng đủ nhu cầu lương thực và một phần nhu cầu thực phẩm cho nhân dân trong tỉnh, góp phần tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống người dân, bảo đảm an ninh lương thực, ổn định thị trường.
  • Do chuyển đổi một phần diện tích đất lúa năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản nên những năm qua diện tích các loại cây trồng của tỉnh Cà Mau giảm mạnh. Năm 2016, diện tích canh tác lúa đạt 71.840 ha, bằng 79,7% so với năm 2015. Trong đó, gieo sạ lúa hè thu trên 36.500 ha; gieo cấy lúa mùa 6.049 ha; sản xuất 01 vụ lúa trên đất nuôi tôm gần 30.000 ha. Diện tích gieo trồng trên 108.300 ha, đạt 85,1% kế hoạch, bằng 85,6% so với năm 2015. Năng suất gieo trồng đạt 4,42 tấn/ha, đạt 96,5% so với kế hoạch, tăng 20,4% so với năm 2015. Tổng sản lượng lúa đạt 496.500 tấn. Với sản lượng này đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu lương thực trong tỉnh, góp phần quan trọng vào bảo đảm an ninh lương thực, ổn định thị trường để phát triển kinh tế.
  • Những năm gần đây, Cà Mau đã triển khai Đề án “Nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất tôm – lúa Cà Mau” đã góp phần nâng cao sản lượng lúa và cải tạo môi trường nuôi trồng thủy sản. Giá trị sản xuất tạo ra trên 1 ha đất trồng trọt hàng năm đều tăng tăng bình quân 11,2%/năm.

Mô hình cánh đồng mẫu lớn đã và đang tích cực triển khai thực hiện ở các xã có điều kiện của 2 huyện Trần Văn Thời và Thới Bình.

Lúa chiếm phần lớn diện tích cây hàng năm của tỉnh, sau sự sụt giảm diện tích canh tác do chuyển dịch cơ cấu sản xuất (theo Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp), tỉnh Cà Mau đã chuyển một diện tích lớn đất trồng lúa và cây trồng khác kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản), từ năm 2005 đến nay diện tích canh tác lúa của tỉnh tương đối ổn định so với thời kỳ 1997 – 2004.

Nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả, bền vững đã và đang được nhân rộng như nuôi kết hợp nhiều loài thủy hải sản trên cùng một diện tích, nuôi cá đồng dưới tán rừng, nuôi cá hồ ao, nuôi luân canh 1 vụ lúa – 1 vụ tôm, trồng hoa màu sau thu hoạch lúa…

  • Hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm tuy được ngành chức năng quan tâm chỉ đạo nhưng kết quả thực hiện còn hạn chế, hiệu quả chưa cao, do điều kiện đặc thù địa phương nên chủ yếu chỉ chăn nuôi nhỏ, lẻ, chưa có nhiều mô hình tập trung có hiệu quả, chưa mang tính chất công nghiệp. Do đó chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong tỉnh và còn gặp nhiều khó khăn. Tổng đàn heo năm 2016 ước đạt 148.950 con, đàn gia cầm ước đạt 1.940.000 con, đàn trâu 239 con; đàn bò 315 con.
  • Tuy nhiên, trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh cũng còn bộc lộ một số hạn chế như: tính bền vững trong sản xuất chưa cao, ứng dụng khoa học – kỹ thuật vào sản xuất chưa nhiều, hoạt động chăn nuôi còn mang tính chất nhỏ lẻ, quy mô hộ gia đình, mô hình nuôi trang trại quy mô lớn còn ít, từ đó làm cho kết quả sản xuất của ngành còn thấp so với tiềm năng, thị trường tiêu thụ của tỉnh.
  • Tuy nhiên, trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh cũng còn bộc lộ một số hạn chế như: tính bền vững trong sản xuất chưa cao, ứng dụng khoa học – kỹ thuật vào sản xuất chưa nhiều, hoạt động chăn nuôi còn mang tính chất nhỏ lẻ, quy mô hộ gia đình, mô hình nuôi trang trại quy mô lớn còn ít, từ đó làm cho kết quả sản xuất của ngành còn thấp so với tiềm năng, thị trường tiêu thụ của tỉnh.
  • Hiện tại, tỉnh Cà Mau đang thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Theo đó, UBND tỉnh đã phê duyệt Kế hoạch tái cơ cấu 6 ngành hàng nông sản chủ lực của tỉnh bao gồm: lúa chất lượng cao, keo lai, cá bổi, tôm sinh thái, cua biển và chuối. Hiện nay, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tích cực triển khai các bước thực hiện theo kế hoạch; đồng thời, hướng dẫn các huyện, thành phố rà soát, điều chỉnh kế hoạch thực hiện đề án tái cơ cấu cụ thể của địa phương.

ü Lâm Nghiệp

Đến năm 2017, tổng diện tích có rừng tập trung trên địa bàn tỉnh Cà Mau có 92.360 ha, chiếm 77% rừng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ che phủ rừng và cây phân tán 24,5%, chủ yếu là rừng ngập nước. Cà Mau có 3 loại rừng chính:

  • Rừng ngập mặn (rừng đước) có diện tích 54.653ha. Tập trung ở các huyện Ngọc Hiển, Năm Căn, Đầm Dơi, Phú Tân.
  • Rừng ngập lợ (rừng tràm U Minh) có tổng diện tích 37.707 ha. Tập trung ở các huyện U Minh, Trần Văn Thời, Thới Bình.

Ngoài ra, trên các cụm đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Đá Bạc có trên 710 ha rừng, với nhiều loại gỗ quý và động vật sinh sống dưới tán rừng.

  • Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, Vườn Quốc gia U Minh Hạ và rừng phòng hộ biển Tây đã được UNESCO công nhận là khu Dự trữ sinh quyển của thế giới. Trong đó, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau đã được công nhận là khu Ramsar của thế giới vào năm 2013. Hiện tại khu vực này đang được tích cực gìn giữ và bảo tồn hệ sinh thái rừng.

Công tác trồng rừng thâm canh ngày càng phát triển, hiện nay ở khu vực U Minh Hạ đã trồng thâm canh khoảng 16.000 ha; trong đó, có khoảng 8.000 ha rừng keo lai và 8.500 ha rừng tràm. Hiệu quả mang lại rất tích cực, kích thích người dân tham gia chuyển đổi cây trồng và mô hình trồng rừng; đồng thời, góp phần hạn chế cháy rừng.

Việc khai thác rừng hàng năm được căn cứ vào phương án được phê duyệt. Năm 2016, diện tích khai thác rừng đạt trên 2.614 ha (bao gồm cả rừng đước và rừng tràm), đạt 65,15% diện tích được cấp phép, với 261.328 m3 gỗ và củi, đạt 55,54% sản lượng được cấp phép. Qua đó, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ gia dụng, ván ép, ván dăm, gỗ ghép, viên gỗ nén. Lâm ngư trường Sông Trẹm (nay là Công TNHH một thành viên lâm nghiệp U Minh Hạ) và Công Ty TNHH XNK chế biến Gỗ Cà Mau sản xuất và cung ứng cho thị trường trên 20 mặt hàng gỗ gia dụng, gỗ ghép thanh xuất khẩu, viên gỗ nén và 4.000 sản phẩm gồm các mặt hàng như bàn ghế văn phòng, nhà hàng, trường học, nội thất gia đình cùng nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ.

Hiện nay, một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đầu tư trồng rừng (chủ yếu là cây keo lai);  xây dựng nhà máy chế biến gỗ và viên gỗ nén xuất khẩu tại xã xã Khánh An, huyện U Minh.

Bên cạnh việc khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên của rừng, tỉnh chú trọng bảo vệ các khu dự trữ sinh quyển thế giới, vườn quốc gia, khu Ramsar, khu bảo tồn, rừng phòng hộ. Tỉnh đã thực hiện cơ chế mới về quản lý rừng và đất lâm nghiệp theo hướng giao đất, khoán rừng đến hộ gia đình. Đối với rừng tràm, rừng đước chuyển từ khai thác sang chăm sóc, tỉa thưa, bảo vệ, trồng mới.

Khu vực rừng ngập mặn, các chủ rừng đã thực hiện tốt liên kết hợp tác với các doanh nghiệp triển khai mô hình nuôi tôm sinh thái được chứng nhận dưới tán rừng, đến nay, đã thực hiện khoảng 20.000 ha. Đồng thời, một số mô hình bảo vệ rừng kết hợp nuôi ốc len, sò…được triển khai thực hiện khá tốt, tăng nguồn thu nhập cho người nhận khoán quản lý bảo vệ rừng, hạn chế các hành vi vi phạm về rừng.

Công tác quản lý, bảo vệ và chăm sóc rừng, phương án phòng cháy chữa cháy rừng được quan tâm thực hiện với phương châm 04 tại chỗ, cơ bản đáp ứng được yêu cầu và hạn chế đến mức thấp nhất những vụ cháy rừng xảy ra.

Trong thời gian tới, tỉnh Cà Mau đẩy mạnh phát triển lâm nghiệp bền vững và ổn định, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên rừng dự trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật, từng bước tăng tỷ trọng lâm nghiệp  trong cơ cấu nông – lâm. Trước mắt, tỉnh Cà Mau hợp tác với các nhà đầu tư trồng 25.000 ha rừng (chủ yếu là keo lai và tràm cừ) tại Công ty TNHH MTV lâm nghiệp U Minh Hạ. Qua đó, nhằm tạo điều kiện cho chủ rừng chủ động trong việc ký kết hợp đồng hợp tác đầu tư trồng rừng, quản lý, bảo vệ, chăm sóc rừng và khai thác tốt những tiềm năng, lợi thế của tỉnh./.

ü Công nghiệp

Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh đạt tốc độ khá cao, góp phần chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế. Công nghiệp đã và đang đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.

  • Toàn tỉnh hiện có 6.659 cơ sở sản xuất công nghiệp, tăng 2.945 cơ sở so với ngày đầu tái lập tỉnh. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 2016 đạt 37.650 tỷ đồng, bằng 74,3% kế hoạch, giảm 16,8% so với năm 2015.
  • Tỉnh đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để thực hiện hoàn thành chương trình điện khí hóa nông thôn. Năm 2009 đã đưa điện về đến 100% các ấp, khóm trong tỉnh. Số hộ sử dụng điện đến đầu năm 2017 chiếm 98,2% tổng số hộ trong toàn tỉnh, tăng thêm 0,7% so với cuối năm 2015. Năm 2016, tỉnh đã khởi công các dự án thuộc lĩnh vực điện quy mô lớn, quan trọng như: Nhà máy điện gió Khu du lịch Khai Long giai đoạn 1, với công suất 100 MW, do Công ty TNHH Xây dựng – Thương mại – Du lịch Công Lý làm chủ đầu tư, tổng vốn đàu tư 5.519 tỷ đồng; Dự án cấp điện nông thôn trên địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 2015 – 2020 do Tổng Công ty Điện lực miền Nam làm chủ đầu tư, tổng vốn đầu tư 892 tỷ đồng.
  • Công nghiệp chế biến của tỉnh chủ yếu là chế biến thủy hải sản. Trong những năm gần đây, các nhà máy chế biền thủy sản đã được đầu tư đổi mới công nghệ, tăng công suất chế biến, nâng cao chất lượng. Sản phẩm ngành công nghiệp chế biến thủy hải sản đã khẳng định được thương hiệu trên thị trường thế giới. Nhiều doanh nghiệp chế biến thủy chế biến đã tiếp cận được những thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, Úc, EU…Sản lượng chế biến thủy sản năm 2016 đạt 128.812 tấn, đạt 82,5% kế hoạch.

Bên cạnh các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp truyền thống như chế biến thủy sản, lương thực, làm đồ gỗ, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền…

  • Cà Mau đang đẩy mạnh chương trình khuyến công nhằm phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp nông thôn và tận dụng nguyên liệu từ sản xuất nông – lâm nghiệp.
  • Cà Mau còn có Cảng Năm Căn là cảng quan trọng trong hệ thống cảng ở Đồng bằng sông Cửu Long và thuận lợi trong việc mở rộng giao thương với các nước trong khu vực. Năng lực hàng hóa thông qua cảng trên 100.000 tấn/năm.
  • Tỉnh Cà Mau có 04 khu công nghiệp gồm Khu công nghiệp Khánh An, Khu công nghiệp Hòa Trung, Khu công nghiệp Năm Căn, Khu công nghiệp Sông Đốc; 03 cụm công nghiệp gồm phường 8, Tân Xuyên và Cụm công nghiệp khí – điện – đạm Cà Mau do Tập đoàn dầu khí Việt Nam làm chủ đầu tư, với vốn đầu tư trên 2 tỉ USD. Trong đó, gồm công trình ống dẫn khí PM3 – Cà Mau, công suất  2 tỉ mét khối/năm; 02 Nhà máy điện Cà Mau 1 và Cà Mau 2, với tổng công suất 1.500MW và Nhà máy đạm công suất 800.000 tấn/năm. Sản lượng điện năm 2016 đạt 7.618 triệu KWh, đạt 89,6% kế hoạch, tăng 2,9% so cùng kỳ; sản lượng đạm đạt 699.348 tấn, đạt 87,4% kế hoạch, giảm 5% so cùng kỳ 2015.
  • Ngoài ta, Cà Mau cũng tích cực tham xây dựng vùng tam giác phát triển Cần Thơ – Cà Mau – Kiên Giang, góp phần phát triển ngành công nghiệp của tỉnh trong những năm tới.

Hiện nay, ngoài việc áp dụng các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư theo quy định chung của Nhà nước, tỉnh Cà Mau còn có một số cơ chế và chính sách riêng của địa phương nhằm khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia đầu tư vào Cà Mau như công tác giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, ưu đãi về vay vốn kinh doanh, ưu tiên chọn mặt bằng cùng nhiều ưu đãi khác; chính sách đầu tư công bằng, minh bạch./.

ü Dân số – Lao động

Tính đến đầu năm 2017, dân số tỉnh Cà Mau có 1.223.191 người, với 613.042 nam và 610.149 nữ; tổng số 290.846 hộ.

Trong đó: Ở thành thị, có 69.015 hộ, với 276.385 người. Ở nông thôn, có 221.831 hộ, với 946.806 người.

Tỷ lệ sinh 14,55%0. Tỷ lệ chết 4,95%0. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,96%. Mức giảm tỷ lệ sinh 0,02%.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ngày càng được mở rộng, tất cả các huyện, thành phố đều có trung tâm dạy nghề, nhiều doanh nghiệp cơ sở sản xuất đã tích cực tham gia truyền nghề, bồi dưỡng nghề cho người lao động.

Những năm gần đây, tỉnh Cà Mau đã đầu tư, triển khai nhiều chương trình, dự án về đào tạo nghề và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Năm 2016, đã giải quyết việc làm cho 40.359 người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo (không kể truyền nghề) chiếm 37,7%. Cơ cấu sử dụng lao động 100%.

Hiện nay, số lao động làm việc trong tỉnh giảm do tình hình sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp tại địa phương vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Công tác phối hợp dạy nghề gắn với giải quyết việc làm giữa cơ sở dạy nghề với chính quyền địa phương và doanh nghiệp còn hạn chế nên một số lao động sau học nghề chưa tìm được việc làm phù họp tại địa phương. Mặc dù kết quả giải quyết việc làm có tăng so cùng kỳ, nhưng lao động mất việc làm, đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp khoảng 4.783 người, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước.

Cơ cấu lao động theo ngành chủ yếu vẫn là nông nghiệp và thủy sản. Trình độ học vấn, ngành nghề, trình độ đào tạo, đạt mức trung bình của vùng. Tạp quán, kinh nghiệm canh tác và kỹ năng nghề nghiệp của lao động Cà Mau được tích lũy qua nhiều thế hệ thuộc loại khá so với các tỉnh khác, nhất là kỹ năng lao động nghề nuôi trồng, khai thác thủy, hải sản, trồng lúa.

ü Dân tộc

  • Dân cư sinh sống trên địa bàn tỉnh Cà Mau có 14 thành phần dân tộc, trong đó có 03 dân tộc chính gồm Kinh – Khmer và Hoa.

Đến đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh Cà Mau, người Kinh chiếm đại đa số, với khoảng 1.180.000 người, chiếm trên 96% dân số và sinh sống hầu hết ở các nơi trong tỉnh. Tiếp theo là người Khmer khoảng 33.439 người, chiếm 2,73% dân số, sống tập trung tại các ngôi chùa ở cả thành thị và nông thôn, tạo thành các xóm người Khmer, sinh sống bằng nghề trồng lúa, rau màu, chăn nuôi, khai thác thủy sản, mua bán nhỏ. Người Hoa có 9.418 người, chiếm 0,76% dân số, chủ yếu sống ở khu vực thành thị, sinh sống bằng nghề mua bán. Còn lại là các dân tộc khác như: Mường, Thái, Tày, Nùng, Giao, Gia rai, Ê đê, Chăm, Chu ru, Si la, người nước ngoài.

  • Tổng số hộ nghèo và cận nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số khoảng 3.940 hộ, chiếm 32,93%; trong đó, hộ nghèo khoảng 3.073 hộ, chiếm 25,68%; hộ cận nghèo khoảng 867 hộ, chiếm 7,25%.

Đồng bào các dân tộc trong tỉnh Cà Mau đều có bản sắc văn hóa, phong tục, tạp quán riêng nhưng luôn đoàn kết, hòa quyện với nhau, góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú đậm đà bản sắc dân tộc.

  • Thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã quan tâm đầu tư sửa chữa, nâng cấp và đầu tư xây dựng mới các ngôi chùa, nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng, lò hỏa táng, tạo điều kiện thuận lợi cho bà con đồng bào dân tộc thiểu số tập trung sinh hoạt vào các dịp lễ, Tết.
  • Đến nay, đời sống đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh có bước phát triển đáng kể. Nhiều hộ được cấp đất ở, đất sản xuất, tặng nhà ở, cung cấp nước sạch, giải quyết việc làm, học sinh được cử tuyển; các nơi sinh hoạt văn hóa, lễ hội cộng đồng, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, dạy chữ Khmer… được quan tâm giải quyết. Kết cấu hạ tầng nhất là về điện nông thôn, đường giao thông, trường học, trạm y tế, hệ thống cung cấp nước sạch…được đầu tư xây dựng.. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân mỗi năm từ 3-4%/năm.

Tải để xem thêm